Triển khai và phát triển dịch vụ thư viện hỗ trợ đào tạo và nghiên cứu trong các trường đại học ở Việt Nam

E-mail Print

TRIỂN KHAI VÀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THƯ VIỆN HỖ TRỢ ĐÀO TẠO VÀ NGHIÊN CỨU TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM

Ths. Trần Thị Hồng Xiêm

Giám đốc Thư viện Trường đại học Kinh tế - Luật

Chủ tịch Liên chi hội Thư viện Trường Đại học phía Nam

__________________________

Tóm tắt: Bài viết phân tích vai trò, nội dung và định hướng phát triển các dịch vụ thư viện hỗ trợ hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học tại các trường đại học, viện nghiên cứu ở Việt Nam nói chung, ở khu vực phía Nam nói riêng trong bối cảnh chuyển đổi số giáo dục. Trước hết, bài viết đưa ra các khái niệm cơ bản về dịch vụ thông tin thư viện, dịch vụ hỗ trợ nghiên cứu khoa học, thư viện đại học và thư viện hiện đại. Trên cơ sở đó, tác giả trình bày các mô hình thực tiễn đã triển khai tại một số trường đại học tiêu biểu khu vực phía Nam, phân tích tính hiệu quả, những thách thức và hạn chế trong quá trình triển khai. Cuối cùng, bài viết đề xuất một số phương án mở rộng dịch vụ thư viện hiện đại theo hướng cá nhân hóa, ứng dụng công nghệ mới và phát triển bền vững, nhằm nâng cao vai trò của thư viện trong hệ sinh thái học thuật và nghiên cứu khoa học tại Việt Nam.

1. Giới thiệu

Trong kỷ nguyên chuyển đổi số và toàn cầu hóa giáo dục, thư viện đại học không còn chỉ là “nơi lưu giữ tri thức”, mà trở thành trung tâm tri thức số đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái học thuật của mỗi cơ sở đào tạo, đặc biệt là đào tạo đại học và sau đại học. Sự phát triển của công nghệ thông tin, dữ liệu lớn (Big Data), trí tuệ nhân tạo (AI) và khoa học mở (Open Science) đang tạo ra cơ hội nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức mới cho các thư viện trong việc tái định vị chức năng, nhiệm vụ phát triển dịch vụ và đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của người học và nhà nghiên cứu (Wang, 2020; IFLA, 2017).

2. Cơ sở lý luận và các khái niệm liên quan

Nói đến dịch vụ chúng ta thường nghĩ đến các dịch vụ từ lĩnh vực ngân hàng, nhà hàng, khách sạn hoặc các dịch vụ chăm sóc khách hàng ở nhóm kinh doanh, bán hàng. Tuy nhiên, trong bài viết này tác giả chỉ đề cập đến các dịch vụ thông tin thuộc lĩnh vực thư viện, khoa học nhằm hướng đến mục tiêu đào tạo và nghiên cứu khoa học trong các trường đại học và viện nghiên cứu.

Dưới đây bài viết sẽ cung cấp một vài thông tin cơ bản về khái niệm dịch vụ thư viện thông tin, dịch vụ hỗ trợ nghiên cứu, dịch vụ hỗ trợ đào tạo và các khái niệm về thư viện đại học, thư viện hiện đại.

2.1. Dịch vụ thư viện thông tin

Theo IFLA (2017), dịch vụ thư viện thông tin là tập hợp các hoạt động, sản phẩm và giải pháp nhằm hỗ trợ người dùng trong việc truy cập, sử dụng và sáng tạo. Các dịch vụ này bao gồm cung cấp tài nguyên bản in và bản điện tử, tư vấn tra cứu, đào tạo kỹ năng thông tin, và hỗ trợ học thuật. Bạn đọc có thể xem thêm tại link này: https://www.ifla.org.

2.2. Dịch vụ hỗ trợ nghiên cứu khoa học

Dịch vụ hỗ trợ nghiên cứu khoa học là nhóm hoạt động của thư viện nhằm đồng hành cùng nhà nghiên cứu trong toàn bộ chu trình nghiên cứu - từ tìm kiếm tài liệu, thu thập và xử lý dữ liệu, đến công bố và đo lường tác động khoa học (Pinfield, 2015). Chi tiết xem tại: https://doi.org/10.1108/OIR-05-2015-0169.

2.3. Thư viện đại học

Thư viện đại học là bộ phận chức năng trong cơ cấu tổ chức của cơ sở giáo dục đại học, có nhiệm vụ thu thập, tổ chức, bảo quản và cung cấp tài nguyên thông tin phục vụ hoạt động giảng dạy, học tập và nghiên cứu. Thư viện đại học hiện đại không chỉ cung cấp tri thức mà còn hướng đến vai trò đồng hành trong học thuật cùng với người học, người dạy và người làm nghiên cứu.

2.4. Thư viện hiện đại

Thư viện hiện đại được hiểu là mô hình thư viện tích hợp công nghệ số, nơi các dịch vụ được tự động hóa, cá nhân hóa và định hướng theo trải nghiệm người dùng (Aksnes et al., 2019). Đồng thời trong đó, thư viện hiện đại sẽ được trang bị các phần mềm, thiết bị, dụng cụ, vật chất hỗ trợ người dùng tìm kiếm, khai thác và sử dụng một cách có hiệu quả cao phục vụ lại cho hoạt động học tập, giảng dạy và nghiên cứu của người dùng.

3. Dịch vụ thư viện hỗ trợ đào tạo

Ngày nay, thư viện không còn là nơi lưu trữ tài liệu, cho mượn sách giáo trình, cung cấp bàn ghế, máy tính, wifi hay thậm chí các máy móc, thiết bị hiện đại trong và ngoài không gian thư viện vật lý nữa. Thư viện nói chung và thư viện đại học nói riêng đã mở ra nhiều dịch vụ hỗ trợ hoạt động dạy và học khác nhau, luôn đảm bảo đáp ứng yêu cầu cao về sử dụng thư viện của thầy cô và người học hay gọi chung là người dùng. Hơn thế nữa, người dùng ngày nay đến với thư viện với nhiều mục đích, mong muốn và kỳ vọng khác nhau, thậm chí họ đã đưa ra các yêu cầu, mong đợi cao hơn ở thư viện và ngay cả với những người làm công tác thư viện người dùng luôn đặt ra những câu hỏi, yêu cầu làm cho thư viện luôn luôn tìm kiếm cách thay đổi, phát triển và mở rộng.

Họ có thể đưa ra rất nhiều câu hỏi, yêu cầu mà họ nghĩ rằng có thể tìm thấy câu trả lời từ thư viện. Một mặt vì thư viện luôn là nơi mở cửa chào đón bất cứ ai đã bước chân đến khuôn viên trường đại học, đã bước chân vào thư viện và đã kết nối, truy cập vào các kênh Internet của thư viện. Các chuyên viên thư viện luôn sẵn sàng nở nụ cười và trả lời bất kỳ câu hỏi nào được đặt ra. Có thể một vài câu trả lời vẫn chưa hoàn toàn thỏa mãn được nhu cầu thông tin của người hỏi, nhưng ít nhất chúng cũng định hướng họ đến những nguồn có khả năng cung cấp câu trả lời chính xác hơn. Điều này đã đặt nền tảng cho thư viện xây dựng các dịch vụ hỗ trợ người dùng, đặc biệt trong hoạt động đào tạo của một trường đại học.

Các dịch vụ hỗ trợ đào tạo của thư viện đại học luôn hướng đến mục tiêu giúp sinh viên tìm kiếm được tài liệu, thông tin họ cần cho việc học tập, cho sự phát triển năng lực thông tin, năng lực số, kỹ năng học thuật và khả năng tự học, tự nghiên cứu trong môi trường đại học. Bên cạnh đó còn giúp các bạn sinh viên phát triển tư duy tri thức, nâng cao văn hoá đọc và tinh thần học tập suốt đời.

Trong bài viết này, tác giả đưa ra một vài ví dụ về việc triển khai các dịch vụ hỗ trợ đào tạo của hệ thống thư viện trường đại học khu vực phía Nam.

Một ví dụ điển hình là Thư viện Trường đại học Kinh tế - Luật (UEL). Ngay từ năm 2010 Thư viện đã bắt đầu triển khai các lớp tập huấn hướng dẫn sử dụng thư viện, cách tìm kiếm tài liệu, sách, báo, tạp chí bản in trong kho mở theo ký hiệu phân loại DDC 14 rút gọn (được thư viện sử dụng tại thời điểm đó). Đến năm 2013, Thư viện mở các lớp tập huấn hướng dẫn sử dụng thư viện, kỹ năng thông tin cho tất cả các tân sinh viên. Tham gia lớp học này là quy định bắt buộc đối với sinh viên để được kích hoạt tài khoản thư viện trước khi bắt đầu khoảng thời gian học tập và sử dụng thư viện trường trong suốt bốn năm đại học. Không chỉ triển khai trong phạm vi UEL, dịch vụ còn hướng dẫn người dùng về cách thức và quy định sử dụng Hệ thống Thư viện Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (ĐHQG-TP.HCM) trong bối cảnh hệ thống đã triển khai dịch vụ mượn liên thư viện, phục vụ dùng chung giữa các thư viện thành viên thuộc ĐHQG-TP.HCM. Những năm sau này, dịch vụ thư viện hỗ trợ đào tạo ngày càng được cải tiến và mở rộng hơn theo tình hình thực tế. Cụ thể như triển khai khóa đào tạo Kỹ năng thông tin từ cơ bản đến nâng cao trên nền tảng LMS của trường. Bạn đọc có thể dễ dàng truy cập từ tài khoản người học do trường cấp để tham gia khoá học này (single sign on); Thư viện cũng cung cấp bài giảng số về kỹ năng thông tin cho tất cả các đối tượng người dùng, tuỳ theo yêu cầu học tập. (xem thêm tại link: https://lib.uel.edu.vn/bai-giang-so-thu-vien-uel/bai-giang-so-thu-vien-uel-2.)

Bên cạnh đó các thư viện thuộc hệ thống Thư viện ĐHQG-TP.HCM, bao gồm cả thư viện UEL đã cung cấp các dịch vụ như mượn liên thư viện trong toàn hệ thống đối với các thư viện có ký kết Biên bản ghi nhớ. Dịch vụ này giúp thầy cô và sinh viên tiếp cận được với nhiều nguồn học liệu chất lượng đến từ các thư viện thành viên.

Thư viện Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - ĐHQG-HCM, thành lập

năm 1995, được xây dựng theo mô hình thư viện hiện đại dựa trên nền tảng thư viện cao học, với không gian Learning Commons. Theo ThS. Nguyễn Minh Hiệp - nguyên Giám đốc Thư viện, đây là đơn vị đầu tiên cung cấp dịch vụ Learning Commons, dịch vụ hỏi - đáp. Người học có thể tự do đến đọc sách, tự học và nghiên cứu; đội ngũ thủ thư luôn túc trực để hỗ trợ, giải đáp mọi thắc mắc của bạn đọc. Về sau, đơn vị tiếp tục phát triển, mở rộng thêm nhiều dịch vụ thông tin thư viện như hiện nay.

Tại Thư viện Trường Đại học (ĐH) Tôn Đức Thắng, đội ngũ chuyên gia thư viện đã phát triển kho học liệu mở (OER) đáp ứng yêu cầu của các chương trình đào tạo, học phần theo đề cương chi tiết học phần. Thư viện đã thiết lập một quy trình phối hợp chặt chẽ giữa thư viện, các khoa, bộ môn và giảng viên, nhằm đảm bảo thu thập đầy đủ dữ liệu về danh mục học liệu của từng môn học/học phần. Trên cơ sở đó, thư viện xây dựng lộ trình và phương thức phát triển kho giáo trình, học liệu mở (OER), đáp ứng hiệu quả nhu cầu giảng dạy và học tập tại Trường ĐH Tôn Đức Thắng. Cũng với dịch vụ xây dựng OER, thành viên của VILASAL đã có khá nhiều trường triển khai thành công dịch vụ này ở những năm gần đây. Trong đó phải kể đến Trường ĐH RMIT Việt Nam, Trường ĐH Công nghệ TP.HCM (HUTECH), Trường ĐH Nguyễn Tất Thành và nhiều trường đại học khác nữa. Tuy mỗi trường có một cơ chế, chính sách và quy định tổ chức thực hiện khác nhau, nhưng chung quy đều hướng đến khoa học mở, giúp người dùng có cơ hội, điều kiện tiếp cận, khai thác và sử dụng nguồn học liệu mở có giá trị của toàn cầu.

Có thể tham khảo thêm tại các link sau:

RMIT - OER: https://rmit.libguides.com/openeducationalresources

Nguyễn Tất Thành - OER: https://oernews.ntt.edu.vn/

Tôn Đức Thắng - OER: https://oer.tdtu.edu.vn/

HUTECH - OER: https://lib.hutech.edu.vn/

4. Dịch vụ thư viện hỗ trợ nghiên cứu khoa học

Bên cạnh các dịch vụ hỗ trợ hoạt động đào tạo của nhà trường, việc phát triển và cung cấp các dịch vụ, sản phẩm thông tin phục vụ cho hoạt động nghiên cứu cũng không kém phần quan trọng.

Thư viện đại học có nhiệm vụ hỗ trợ nghiên cứu khoa học từ những hoạt động cơ bản là tư vấn tìm tin, đào tạo kỹ năng thông tin số nâng cao, cung cấp dữ liệu, bài báo... Ngoài ra còn có dịch vụ khác như tư vấn bản quyền, hỗ trợ xuất bản học thuật và quản lý dữ liệu nghiên cứu (RDM). Tuỳ điều kiện và khả năng của mỗi trường, mỗi thư viện sẽ cung cấp các dịch vụ khác nhau. Nhưng tất cả các sản phẩm, dịch vụ đó đều mang lại những giá trị giúp những người làm nghiên cứu có thể thực hiện nghiên cứu của mình một cách tốt nhất, nhanh chóng và có độ chính xác, tin cậy cao về mặt dữ liệu, kỹ năng và phương pháp nghiên cứu.

Với các trường đại học tiên tiến, có nhiều công bố quốc tế khi vào menu thư viện, tìm đến chuyên mục hỗ trợ nghiên cứu chúng ta dễ dàng nhìn thấy khá nhiều các dịch vụ, trong đó bao gồm cả huấn luyện và cung cấp kỹ năng thông tin, phương pháp và năng lực nghiên cứu lẫn nguồn thông tin, dữ liệu phục vụ cho các lĩnh vực, chủ đề và mục tiêu nghiên cứu. Thậm chí, các trường đại học này còn xây dựng một bộ phận chuyên trách, với nhiệm vụ hỗ trợ hoạt động nghiên cứu cho cả một chu trình nghiên cứu từ khâu lên ý tưởng và cách xây dựng tổng quan nghiên cứu đến quá trình thực hiện nghiên cứu, hỗ trợ xuất bản và theo dõi các chỉ số trích dẫn sau xuất bản.

Bạn đọc có thể xem thêm các ví dụ tại links dưới đây:

Malaya University: https://umlib.um.edu.my/#

RMIT AUS: https://www.rmit.edu.au/library/research

Oxford University: https://www.ox.ac.uk/research/support-researchers

Singapore Management University: https://library.smu.edu.sg/

Ở Việt Nam, các dịch vụ hỗ trợ nghiên cứu cũng đã được triển khai trong những thập kỷ gần đây, tuy chưa quá nhiều thư viện đại học cung cấp tốt các dịch vụ này nhưng cũng phần nào đáp ứng được nhu cầu cơ bản của các nhà nghiên cứu. Với nhóm thư viện đại học khu vực phía Nam, các đại học lớn như ĐHQG-TP.HCM, ĐH Kinh tế TP.HCM, Trường ĐH Cần Thơ, Trường ĐH Tôn Đức Thắng, Trường ĐH Luật TP.HCM và một số trường đại học khác đã cung cấp dịch vụ hỗ trợ nghiên cứu từ nhiều năm qua. Mỗi năm các đại học, trường đại học này đều tổ chức các khóa hướng dẫn, truyền thông và phổ biến dịch vụ giúp nhiều nhà nghiên cứu có thể tiếp cận và sử dụng dịch vụ hỗ trợ nghiên cứu đến từ thư viện.

Mới nhất, vào đầu tháng 9 năm 2025, Thư viện Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-TP.HCM đã chủ trì và tập hợp 9 thư viện trường đại học khu vực phía Nam thành một nhóm cùng, đào tạo, chia sẻ kinh nghiệm và tổ chức thực hiện các dịch vụ thư viện hiện đại nhằm hỗ trợ tốt hơn cho hoạt động nghiên cứu tại các trường đại học. Cụ thể đã đào tạo đội ngũ nhân sự làm công tác phục vụ bạn đọc, dịch vụ tham khảo tại các thư viện đại học như năng lực số, ứng dụng AI trong hoạt động thư viện, bao gồm: (1) Triển khai dịch vụ trắc lượng thư mục tại các thư viện đại học; (2) Tư duy prompt và ứng dụng AI trong phân tích và đánh giá tài liệu, dữ liệu phục vụ nghiên cứu; (3) Gỡ băng phỏng vấn bằng công nghệ trí tuệ nhân tạo MEMOBOT (nâng cao); (4) Triển khai dịch vụ kiểm tra trùng lặp dữ liệu tại Trung tâm thông tin, Thư viện và Bảo tàng Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-TP.HCM. Đây là một trong những mô hình triển khai các dịch vụ hỗ trợ nghiên cứu tại các trường đại học rất hiệu quả và có thể được nhân rộng trong thời gian tới.

Ngoài hoạt động này, UEL cũng là thành viên trong nhóm 9 đơn vị triển khai mô hình trên đã nhiều năm qua triển khai đào tạo, huấn luyện người dùng các kỹ năng như: sử dụng công cụ kiểm tra trùng lặp văn bản iThenticate, Turnitin; quản lý và xây dựng danh mục tài liệu tham khảo từ nhiều công cụ khác nhau như ZOTEZO, EndNote; kỹ năng thông tin số từ cơ bản đến nâng cao,… Thư viện Trường ĐH Y Dược TP.HCM cung cấp dịch tư vấn systematic search; Thư viện Trường ĐH Tôn Đức Thắng vận hành hệ thống trắc lượng thư mục, proofreading,… và còn nhiều dịch vụ khác đến từ các thư viện đại học mà bạn đọc có thể tìm hiểu thêm từ trang web của các thư viện để nắm được các dịch vụ thư viện hiện đại, dịch vụ hỗ trợ nghiên cứu.

5. Thách thức và hạn chế trong triển khai các dịch vụ thư viện hiện đại

5.1. Đối với hoạt động đào tạo

Môi trường dạy và học số hiện nay khiến thư viện đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức trong quá trình hình thành và xây dựng các dịch vụ hỗ trợ hoạt động đào tạo. Thói quen và nhu cầu học tập cá nhân hóa đã làm cho thư viện phải thay đổi rất nhiều để từng bước đáp ứng mong đợi của người học. Trong khi đó, việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, nguồn tài nguyên thông tin, nhân sự làm thư viện… đều phụ thuộc vào định hướng và khả năng đầu tư của nhà trường. Do vậy nhiều thư viện chưa thể mở rộng các dịch vụ hỗ trợ đào tạo vì những hạn chế về nguồn lực và kỹ năng thông tin của người dùng (Wang, 2020).

5.2. Đối với nghiên cứu khoa học

Áp lực công bố quốc tế từ nhiều trường đại học đã dẫn đội ngũ làm nghiên cứu đến với thư viện để tìm sự hỗ trợ, tuy nhiên việc truy cập cơ sở dữ liệu điện tử còn gặp nhiều hạn chế do kinh phí để mua quyền truy cập này không phải nhỏ đối với các trường đại học và thư viện đại học. Công cụ kiểm tra trùng lặp văn bản cũng chưa phổ biến đối với các thư viện đại học ở Việt Nam hiện nay. Chỉ một số ít các trường/thư viện đại học được đầu tư giúp đội ngũ làm nghiên cứu có cơ hội kiểm tra trùng lặp văn bản trước khi nộp bài cho các tạp chí nhằm hạn chế tối đa việc bị từ chối.

Đặc biệt đối với các dịch vụ hỗ trợ nghiên cứu, thư viện đại học vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn thách thức về năng lực của đội ngũ nhân sự thư viện, những người có đủ trình độ chuyên môn, kiến thức ở các lĩnh vực cũng như kỹ năng thông tin số, ngoại ngữ để có thể tư vấn và hướng dẫn thầy cô, nghiên cứu sinh, học viên và sinh viên thực hiện quy trình nghiên cứu. Do vậy việc đào tạo kỹ năng học thuật dành cho nhân sự thư viện cũng là một vấn đề cần được quan tâm trong thời gian tới.

6. Đề xuất mở rộng dịch vụ thư viện hiện đại

(1) Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong phân tích học thuật

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong phân tích học thuật đang mở ra một cánh cửa phát triển mới cho các thư viện đại học và viện nghiên cứu. AI có khả năng giúp các thư viện tự động hóa quy trình xử lý dữ liệu học thuật như phân tích trích dẫn, đánh giá ảnh hưởng khoa học, phát hiện và gợi ý xu hướng nghiên cứu và hỗ trợ tìm kiếm ngữ nghĩa trong kho dữ liệu lớn. Theo nghiên cứu của Cox et al. (2023), các hệ thống AI trong thư viện không chỉ giúp tối ưu hóa tra cứu tài liệu mà còn hỗ trợ các nhà nghiên cứu trong việc phân tích mạng lưới tri thức và xác định khoảng trống nghiên cứu tiềm năng. Tuy nhiên việc ứng dụng AI cần được triển khai có trách nhiệm, đảm bảo minh bạch về các thuật toán, bảo vệ dữ liệu người dùng và tuân thủ các nguyên tắc đạo đức nghiên cứu (IFLA, 2021). Khi được tích hợp hợp lý, AI sẽ trở thành công cụ chiến lược giúp thư viện chuyển dịch từ vai trò hỗ trợ sang vai trò đồng sáng tạo tri thức trong hệ sinh thái học thuật.

(2) Xây dựng nền tảng học tập - nghiên cứu tích hợp (Intergrated Learning and Research Platform)

Sự kết hợp giữa học tập và nghiên cứu trong cùng một hệ thống hỗ trợ số là xu hướng tất yếu nhằm nâng cao hiệu quả học thuật và đổi mới sáng tạo. Nền tảng học tập - nghiên cứu tích hợp cho phép người dùng truy cập đồng thời các tài nguyên học tập, dữ liệu nghiên cứu, công cụ phân tích và dịch vụ hỗ trợ học thuật trong một không gian số hợp nhất. Theo Hiệp hội Thư viện Nghiên cứu Hoa Kỳ (ARL, 2022), các thư viện hiện đại cần chuyển sang cung cấp “one-stop services” để người dùng có thể học, nghiên cứu, cộng tác và xuất bản ngay trong cùng một hệ sinh thái. Mô hình này đặc biệt phù hợp với phương pháp học tập trải nghiệm (Experiential Learning) và nghiên cứu liên ngành - khi người dùng cần công cụ truy cập tài liệu, lưu trữ dữ liệu và hợp tác nhóm một cách linh hoạt. Triển khai nền tảng này cũng giúp thư viện đại học trở thành hạ tầng học thuật cốt lõi, đồng hành cùng giảng viên và nhà nghiên cứu viên trong toàn bộ chu trình tri thức.

(3) Phát triển Makerspace - không gian sáng tạo và đổi mới

Makerspace là mô hình không gian sáng tạo trong thư viện, nơi người học, nhà nghiên cứu và các câu lạc bộ khởi nghiệp có thể sử dụng các công cụ hiện đại (in 3D, thiết kế số, xử lý đa phương tiện) để tạo ra sản phẩm, nguyên mẫu và ý tưởng mới. Theo nghiên cứu của Moorefield-Lang (2019), việc phát triển Makerspace trong thư viện góp phần hình thành năng lực tư duy thiết kế (Design Thinking) và kỹ năng giải quyết vấn đề (Problem Solving) thông qua trải nghiệm thực hành. Ở các trường đại học, Makerspace giúp gắn kết hoạt động nghiên cứu, đổi mới sáng tạo với đào tạo và khởi nghiệp, đồng thời thúc đẩy văn hóa sáng chế mở. Tuy nhiên, triển khai Makerspace cần chú trọng đào tạo nhân lực vận hành, quản lý an toàn thiết bị và xây dựng quy trình chia sẻ tài nguyên. Khi được tổ chức hiệu quả, Makerspace không chỉ là nơi sáng tạo mà còn là trung tâm kết nối tri thức, công nghệ và cộng đồng (Kim, 2022).

(4) Đào tạo năng lực Research Literacy cho giảng viên, nghiên cứu viên và sinh viên

Research Literacy - hiểu biết và năng lực nghiên cứu - là một thành tố quan trọng của năng lực thông tin học thuật (Information Literacy). Thư viện cần đóng vai trò tiên phong trong việc thiết kế và cung cấp các chương trình đào tạo, huấn luyện nhằm nâng cao kỹ năng tìm kiếm, đánh giá, quản lý và công bố thông tin khoa học. Theo ACRL (2015), việc đào tạo năng lực thông tin và nghiên cứu giúp người học, người làm nghiên cứu phát triển tư duy phản biện, nâng cao chất lượng bài viết học thuật và tuân thủ các nguyên tắc đạo đức nghiên cứu hay liêm chính học thuật. Các khóa huấn luyện này nên được tích hợp trong chương trình đào tạo chính khóa hoặc cung cấp dưới hình thức học trực tuyến mở (MOOCs) để mở rộng và tăng khả năng tiếp cận của nhiều người. Khi người học và người làm nghiên cứu nắm vững Research Literacy, họ sẽ không chỉ sử dụng thông tin hiệu quả mà còn có khả năng đóng góp tích cực vào quá trình tạo lập tri thức mới, qua đó nâng cao năng lực nghiên cứu của trường và viện.

(5) Hợp tác chia sẻ tài nguyên số trong nước và quốc tế

Trong thời đại phong trào học liệu mở và giáo dục không biên giới, hợp tác chia sẻ tài nguyên số giữa các thư viện đại học và viện nghiên cứu là xu hướng chiến lược tất yếu nhằm tối ưu hóa nguồn lực và nâng cao khả năng tiếp cận tri thức của người dùng. Theo IFLA (2021), mạng lưới chia sẻ dữ liệu và xuất bản mở góp phần giảm chi phí truy cập, mở rộng cơ hội học thuật cho cộng đồng học giả toàn cầu, đồng thời tăng cường sự hiện diện học thuật của các cơ sở trong nước. Việc phát triển các liên minh thư viện số (Digital Consortia) trong nước giúp tối ưu hóa ngân sách mua sắm cơ sở dữ liệu, còn hợp tác quốc tế mở ra cơ hội trao đổi dữ liệu nghiên cứu và xuất bản chung. Thách thức chính là đảm bảo tính tương thích về hạ tầng kỹ thuật, công nghệ, quyền truy cập và bản quyền số. Do đó, cần có chính sách quốc gia và tiêu chuẩn liên kết dữ liệu thống nhất để tạo điều kiện cho thư viện Việt Nam nói chung, thư viện đại học nói riêng hội nhập sâu hơn vào không gian học thuật mở và tri thức toàn cầu.

(6) Thư viện là đơn vị đầu mối tham gia vào chu trình nghiên cứu, công bố và sau công bố

Vai trò của thư viện đại học trong chu trình nghiên cứu ngày càng được mở rộng, từ hỗ trợ truy cập tài liệu đến tham gia trực tiếp vào các giai đoạn công bố và hậu công bố. Theo ARL (2022), thư viện đại học cần trở thành đơn vị đầu mối trong quản lý dữ liệu nghiên cứu (Research Data Management), tư vấn xuất bản học thuật (Scholarly Communication), và duy trì kho lưu trữ mở (Institutional Repository). Điều này giúp đảm bảo tuân thủ chính sách tài trợ, tăng khả năng trích dẫn và bảo toàn dữ liệu khoa học lâu dài. Thư viện cũng có thể hỗ trợ giai đoạn hậu công bố thông qua dịch vụ đo lường tác động học thuật (bibliometrics, altmetrics) và phổ biến tri thức đến cộng đồng học thuật trong và ngoài trường. Khi đảm nhận vai trò trung tâm trong chu trình tri thức, thư viện không chỉ là “người hỗ trợ” mà trở thành “đối tác học thuật” thực thụ trong hệ sinh thái nghiên cứu và đổi mới sáng tạo của trường đại học và viện nghiên cứu.

7. Kết luận

Thư viện đại học và viện nghiên cứu Việt Nam đang chuyển đổi mạnh mẽ sang mô hình thư viện hiện đại tiến tới thư viện thông minh - lấy người dùng làm trung tâm, mọi sản phẩm, dịch vụ thông tin và hoạt động đều hướng đến mục tiêu đáp ứng nhu cầu thông tin, học thuật của người dùng cho dù nhu cầu ấy là học tập, giảng dạy hay nghiên cứu. Vì thế chính đội ngũ nhân sự làm công tác thư viện cần trang bị cho mình những kiến thức, kỹ năng, thái độ hay nói cách khác hơn là năng lực phục vụ người dùng và phục vụ tổ chức thực hiện tốt sứ mệnh đào tạo và nghiên cứu ở những lĩnh vực khoa học mà tổ chức/trường đại học đã đặt ra. Song song đó, thư viện hiện đại cũng cần quan tâm và đặt lên trên mục tiêu phát triển bền vững, đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của người dùng không bị giới hạn. Đặc biệt cần quan tâm đến đối tượng có khiếm khuyết trong việc tiếp nhận và khai thác thông tin một cách thông thường.

Để thực hiện tốt sứ mệnh, trọng trách của thư viện đại học, thư viện học thuật các nhà hoạch định chính sách và khoa học thư viện cần đưa ra những yếu tố cốt lõi mà các thư viện cần hướng đến như: hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý, chính sách mở để nhiều người có thể tiếp cận thông tin học thuật một cách hiệu quả hơn, không bị hạn chế trong suốt quá trình tìm kiếm và khai thác thông tin; cần đầu tư đồng bộ về hạ tầng công nghệ, hạ tầng số, tích hợp công nghệ số, mở rộng học liệu mở. Đào tạo kỹ năng học thuật nguồn nhân lực thư viện chất lượng cao để có đủ năng lực, kiến thức phục vụ cộng đồng học thuật; hoàn thiện khung chính sách khoa học mở từ đó nhiều người có thể tham gia vào quy trình xây dựng và khai thác học liệu mở một cách không giới hạn. Hơn hết, cần có sự quan tâm đầu tư về tài chính để các thư viện đại học có điều kiện mua sắm cơ sở vật chất, tài nguyên thông tin số, các công cụ, phần mềm, công nghệ tích hợp số giúp đẩy nhanh tiến trình cá nhân hóa trong môi trường số đúng với mục tiêu chuyển đổi số giáo dục quốc gia./.

Tài liệu tham khảo

  1. Aksnes, D. W., Langfeldt, L., & Wouters, P. (2019). Citations, citation indicators, and research quality: An overview of basic concepts and theories. SAGE Open, 9(1), 1–17. https://doi.org/10.1177/2158244019829575
  2. IFLA (2017). Global vision report: Summary. International Federation of Library Associations and Institutions. https://www.ifla.org
  3. Pinfield, S. (2015). Making open access work: The 'state-of-the-art' in providing open access to scholarly literature. Online Information Review, 39(5), 604–636. https://doi.org/10.1108/OIR-05-2015-0169
  4. Suber, P. (2012). Open access. MIT Press.
  5. Tenopir, C., Allard, S., Douglass, K., Aydinoglu, A. U., Wu, L., Read, E., & Frame, M. (2020). Research data management services in academic research libraries and perceptions of librarians. Library & Information Science Research, 32(3), 126–131. https://doi.org/10.1016/j.lisr.2020.102105
  6. Wang, T. (2020). Digital transformation and challenges of academic libraries in higher education. Journal of Academic Librarianship, 46(5), 102195. https://doi.org/10.1016/j.acalib.2020.102195

Đọc thêm cùng chuyên mục: