NGHIỆP VỤ THƯ VIỆN



Thời cơ và thách thức để phát triển ngành công nghiệp nội dung số ở Việt Nam

E-mail Print

Vào những năm 50, người ta nhận thấy sự phát triển không ngừng của các lĩnh vực phi nông nghiệp, phi công nghiệp ở một số nền kinh tế tiên tiến. Sự phát triển đó được xem là hạt nhân của nền kinh tế mới đang nổi lên, trong đó thông tin là một trong những yếu tố đóng vai trò chủ đạo, trở thành tín hiệu điều khiển nền kinh tế. Sự gia tăng của các thông tin và công nghệ thông tin đã tạo tiền đề cho ngành công nghiệp nội dung số (CNNDS) ra đời và nó dần trở thành thước đo để đánh giá sự phát triển nền kinh tế của một quốc gia.

Với hàm nghĩa công nghiệp là một hoạt động kinh tế có quy mô lớn với những sản phẩm làm ra trở thành hàng hoá và dịch vụ. Như vậy, khi nội dung số phát triển đến quy mô hàng hoá, dịch vụ nhất định nó sẽ trở thành một ngành công nghiệp. Và có thể hiểu khái niệm ngành CNNDS đơn giản là ngành công nghiệp thiết kế, sản xuất, xuất bản, lưu trữ, phân phối và ấn hành các sản phẩm nội dung dưới dạng số truyền tải trong môi trường điện tử. CNNDS là sự kết hợp của các nhóm ngành công nghệ thông tin, truyền thông và những ngành sản xuất nguyên liệu đầu vào như: văn hoá, giáo dục, y tế…

CNNDS phát triển mạnh đã thâm nhập sâu vào nhiều lĩnh vực mà trước đây chưa được coi là ngành sản xuất. Những thay đổi nhanh chóng trong chuỗi giá trị sản xuất, phân phối và sử dụng nội dung số đã tạo ra nhiều mô hình kinh doanh năng động. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức đặt ra, đặc biệt đối với các nhà quản lý trong xây dựng môi trường kinh doanh và chính sách thị trường để ngành CNNDS không ngừng phát triển.

1. Thực trạng và cơ hội phát triển công nghiệp nội dung số ở Việt Nam

Thực trạng ngành công nghiệp nội dung số

CNNDS xuất hiện ở Việt Nam từ năm 1990, nhưng chỉ mới phát triển vào những năm gần đây với các loại hình dịch vụ giáo dục trực tuyến, game online (trò chơi trực tuyến), trò chơi tương tác trên truyền hình, trên điện thoại di động… Lĩnh vực CNNDS hiện nay đang được định hướng phát triển tập trung vào nhóm vấn đề liên quan đến: Phát triển nội dung số cho Internet (cổng thông tin điện tử, dịch vụ email, dịch vụ tìm kiếm trên Internet…); Phát triển nội dung số cho mạng điện thoại di động; Giáo dục điện tử trực tuyến E-learning (đào tạo trực tuyến, tư vấn, tra cứu thông tin qua mạng, cung cấp chương trình học tập, giáo trình, bài giảng, thí nghiệm ảo…); Trò chơi điện tử; Cơ sở dữ liệu (văn bản pháp quy, số liệu thống kê, dữ liệu chuyên ngành, dữ liệu doanh nghiệp…) và những nội dung số phục vụ giải trí (truyền hình kỹ thuật số, sản phẩm đa phương tiện số…). Thị trường nội dung số nước ta gần đây rất sôi động, nội dung số được Việt hoá như quảng cáo, trò chơi, tin tức, âm nhạc, phim ảnh… xuất hiện ngày càng nhiều. Sự bùng nổ nội dung số trên điện thoại di động buộc các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông phải chạy đua về công nghệ, hướng tới cung cấp cho người sử dụng các dịch vụ về điện thoại, truyền hình, truyền dữ liệu… trong môi trường không dây và phát triển mạnh dịch vụ liên kết giữa điện thoại di động với Internet. Xu hướng liên mạng phát triển trong tương lai sẽ tạo ra khả năng truy cập vào các mạng ở mọi nơi, mọi lúc.

Cho đến nay CNNDS vẫn là lĩnh vực giữ được tốc độ tăng trưởng khá, năm sau cao hơn năm trước. Ước tính năm 2012, CNNDS đạt doanh thu 1,3 tỷ USD (tăng trưởng khoảng 12%). Ba doanh nghiệp chủ lực là VNG, VTC online và FPT online. Việt Nam trở thành thị trường game lớn nhất khu vực Đông Nam Á và trở thành một trong mười thị trường game online có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới. Trong năm 2012, doanh thu của game online đạt 5.000 tỷ VNĐ, tăng khoảng 20% so với năm 2011 (số liệu của công ty GameK). Thị trường xuất khẩu nội dung game online chủ đạo là Nhật Bản, Trung Quốc, các nước Mỹ la tinh và một số nước châu Âu.

Cơ hội phát triển công nghiệp nội dung số

Đón nhận xu thế toàn cầu hoá và xu hướng phát triển các tập đoàn viễn thông đa quốc gia trong lĩnh vực nội dung số, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản, chính sách, chương trình, dự án ưu tiên phát triển ngành công nghệ thông tin, trong đó CNNDS được xem là mũi nhọn phát triển. Nghị định 108/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điểm của Luật đầu tư đã đưa “sản xuất sản phẩm phần mềm, nội dung thông tin số” vào danh mục lĩnh vực được đặc biệt ưu đãi đầu tư. Tháng 5/2007, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định 56/2007/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phát triển CNNDS đến năm 2010. Theo đó, CNNDS được coi là một ngành kinh tế mới, có nhiều tiềm năng phát triển, đem lại giá trị gia tăng cao, thúc đẩy sự phát triển của xã hội thông tin và kinh tế tri thức, góp phần quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước. Nghị quyết nhấn mạnh, Nhà nước đặc biệt khuyến khích, ưu đãi đầu tư và hỗ trợ phát triển công nghiệp này thành một ngành kinh tế trọng điểm. Nhà nước dành một phần ngân sách đầu tư đào tạo nguồn nhân lực, phát triển cơ sở hạ tầng thông tin – truyền thông hiện đại, hoàn thiện môi trường pháp lý, tạo môi trường thuận lợi, có chính sách đặc biệt ưu đãi đối với một số sản phẩm trọng điểm và khuyến khích phát triển thị trường nội dung thông tin số.

Cụ thể hoá mục tiêu phát triển, Quyết định 56/2007/QĐ-TTg chỉ ra: Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của CNNDS phải đạt từ 30-40%, đạt tổng doanh thu 400 triệu USD/ năm; Xây dựng từ 10-20 doanh nghiệp nội dung số mạnh, có trên 500 lao động chuyên nghiệp; Làm chủ các công nghệ nền tảng, sản xuất được một số sản phẩm trọng điểm có khả năng cạnh tranh trong CNNDS; Hình thành hệ thống thư viện số trực tuyến; Xây dựng một số cơ sở dữ liệu chuyên ngành; Cung cấp hiệu quả các dịch vụ tư vấn khám, chữa bệnh và đào tạo từ xa.

Nhằm phát triển thị trường, chương trình CNNDS đã đưa ra giải pháp kích cầu, phát triển thị trường nội địa và xuất khẩu hướng vào thu hẹp khoảng cách số giữa thành thị và nông thôn, nâng cao nhận thức và văn hoá sử dụng Internet, sản phẩm, dịch vụ nội dung thông tin số; tăng cường quản lý để đảm bảo môi trường cạnh tranh bình đẳng, chống gian lận thương mại, vi phạm sở hữu trí tuệ…

Để đảm bảo cho sự phát triển của từng lĩnh vực, chương trình phát triển công nghiệp số của nhà nước có giải pháp huy động nguồn lực và thu hút đầu tư; phát triển hạ tầng truyền thông, Internet; đào tạo phát triển nguồn nhân lực; đẩy mạnh nghiên cứu phát triển và tăng cường bảo đảm an toàn, an ninh và sở hữu trí tuệ.

Cùng với những giải pháp thực hiện, về chính sách, chương trình hướng vào việc xây dựng và ban hành các văn bản hướng dẫn triển khai thực hiện và tăng cường hiệu lực của các bộ luật có liên quan như: Luật Giao dịch điện tử, Luật Công nghệ thông tin, Luật Sở hữu trí tuệ, đơn giản hoá thủ tục quản lý Internet; tạo môi trường kinh doanh cạnh tranh bình đẳng trong giao dịch, thanh toán, chứng thực điện tử; đảm bảo an toàn, bảo mật thông tin; ban hành các quy định cụ thể về bảo vệ thông tin cá nhân, bảo vệ bí mật kinh doanh và quyền riêng tư của người tham gia giao dịch điện tử.

Nguồn kinh phí thực hiện các dự án của CNNDS được huy động từ ngân sách trung ương 40%; 30% từ ngân sách địa phương và số còn lại được huy động từ sự đóng góp của các tổ chức doanh nghiệp và cá nhân trong và ngoài nước. Nguồn nhân lực trong lĩnh vực nội dung số đang từng bước được chú ý đào tạo và nâng cao tay nghề. Tận dụng thị trường lao động dồi dào, trẻ, khoẻ, có khả năng tiếp cận công nghệ nhanh. Đây là những yếu tố tạo nên tiềm lực cho ngành công nghiệp non trẻ này phát huy hơn nữa thế mạnh của mình trong thời gian tới.

2. Thách thức đối với sự phát triển ngành công nghiệp nội dung số

Hạn chế về thị trường và sản phẩm - dịch vụ

Dù là nằm trong khu vực phát triển năng động nhất ở Đông Nam Á, song việc phát triển CNNDS vẫn không tránh khỏi sự cạnh tranh khốc liệt, đặc biệt là với Trung Quốc và các nước trong khu vực. Bên cạnh đó hệ thống sản phẩm và dịch vụ nội dung số của nước ta còn quá khiêm tốn, không đủ sức cạnh tranh với các sản phẩm nội dung số của thị trường nước ngoài. Chính hạn chế này đã đưa đến những khó khăn khi đưa các sản phẩm nội dung số ra ngoài thị trường thế giới và ngay ở thị trường trong nước, các sản phẩm, dịch vụ thông tin số cũng khó đứng vững trước sự đa dạng và phong phú về loại hình và chất lượng của các nước khác. Như vậy, vấn đề giảm sức cạnh tranh trên thị trường đã làm cho hiệu quả kinh tế của ngành CNNDS không đạt được kết quả như mong đợi.

Hạn chế về nguồn nhân lực

Tuy đã có một đội ngũ khoảng trên 10 nghìn người tham gia vào lĩnh vực CNNDS nhưng nhu cầu nhân lực của các doanh nghiệp công nghiệp số hiện nay rất lớn và cấp bách, vượt quá khả năng đáp ứng của thị trường. Bên cạnh đó, còn tồn tại khoảng cách khá lớn giữa nội dung đào tạo và yêu cầu của nhà tuyển dụng. Các trường chưa có nhiều khoá học, môn học chuyên sâu về CNNDS. Thiếu các chuyên viên, kỹ sư có trình độ về đa phương tiện số. Thiếu đội ngũ nhân lực vừa am hiểu nghệ thuật, vừa am hiểu công nghệ. Chưa có nhiều các chương trình đào tạo nâng cao kỹ năng về CNNDS. Nhìn chung, đội ngũ phát triển nội dung còn mỏng và yếu, chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu phát triển của ngành.

Hạn chế về viễn thông và đường truyền

Dung lượng và giá đường truyền Internet còn hạn chế. Hạ tầng băng rộng chưa phát triển đủ mạnh. Giá thuê kênh truyền vẫn cao so với khu vực và quốc tế. Dung lượng và chất lượng đường truyền còn nhiều vấn đề. Các dịch vụ thông tin di động 3G, 4G đã triển khai nhưng phát triển còn chậm. Dịch vụ truyền dữ liệu trên mạng di động chưa được phổ biến do giá truy cập còn cao.

Môi trường pháp lý còn thiếu

Môi trường pháp lý cho CNNDS còn rất thiếu. Nhà nước cần nhận diện rõ ngành công nghiệp này để có văn bản quản lý, hỗ trợ phù hợp. Nhà nước đã có một số văn bản về quản lý phát hành các trang thông tin điện tử, nội dung điện tử, tuy nhiên chưa đầy đủ và còn nhiều bất cập. Thông tư liên bộ về game online chưa đầy đủ. Bên cạnh đó, môi trường pháp lý về sở hữu trí tuệ còn nhiều vấn đề như: Thiếu các văn bản dưới luật để quy định rõ các trường hợp vi phạm; Thiếu các quy định về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; Thiếu các chế tài xử phạt; Tỷ lệ vi phạm bản quyền phần mềm cao.

Nguồn kinh phí và thu hút đầu tư nước ngoài

Nguồn kinh phí dành riêng cho việc phát triển ngành CNNDS ở nước ta còn thiếu, không đủ để triển khai tất cả những hạng mục nội dung quan trọng của ngành công nghiệp thông tin mũi nhọn này. Mặc dù đã tham gia nhiều tổ chức, liên hiệp quốc tế như: WTO, World Bank… nhưng chúng ta vẫn thu hút được rất ít nguồn vốn ODA vào hỗ trợ phát triển CNNDS. Nguồn kinh phí chủ yếu dựa vào ngân sách của Nhà nước và kinh phí huy động được từ các doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực cung cấp nội dung số ở Việt Nam.

3. Giải pháp đẩy mạnh tốc độ phát triển ngành công nghiệp nội dung số

Để phát triển ngành CNNDS ở Việt Nam, cần xây dựng chiến lược dựa trên những yêu cầu của thực tế. Có sự phối hợp, gắn kết cùng hành động giữa các cơ quan ngang Bộ và có chương trình mục tiêu cụ thể cho từng giai đoạn nhất định. Đặc biệt, cần xác định rõ các lĩnh vực nội dung số trọng tâm như:

- Phát triển nội dung cho Internet (báo điện tử, trang web, tra cứu thông tin…)

- Phát triển nội dung cho mạng di động (tin nhắn tra cứu thông tin, dự đoán kết quả, bầu chọn, tải chuông, logo…)

- Học tập điện tử, giáo dục trực tuyến (E-learning)

- Y tế điện tử (các dịch vụ tư vấn sức khoẻ, khám chữa bệnh qua mạng)

- Thương mại điện tử (thiết kế, quảng cáo, tiếp thị, mua bán trên mạng...)

- Trò chơi điện tử (máy tính, trực tuyến, tương tác, cho thiết bị di động…)

- Thư viện số, Kho dữ liệu số, Ngân hàng dữ liệu…

- Phim số, truyền hình số, hoạt hình và các dịch vụ/ sản phẩm liên quan.

Bên cạnh đó cần tăng cường hơn nữa các giải pháp cụ thể về một số vấn đề sau:

Về hành lang pháp lý

Xây dựng, hoàn thiện môi trường pháp lý, cơ chế chính sách phát triển CNNDS; Xác lập các loại hình, lĩnh vực CNNDS; Xây dựng, hoàn thiện các văn bản quản lý đối với các hoạt động cung cấp (phát hành) nội dung thông tin số; Xây dựng các cơ chế, chính sách ưu đãi hỗ trợ phát triển sản phẩm nội dung số; Xây dựng, hoàn thiện các văn bản pháp lý dưới luật, tăng cường việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho phần mềm, nội dung số. Đẩy mạnh thực thi bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực phần mềm, nội dung số; Xây dựng môi trường pháp lý cho tài sản trí tuệ (IP) trong CNNDS; Củng cố và tăng cường năng lực hoạt động cho cơ quan quản lý nhà nước về CNNDS; Thiết lập quỹ đầu tư mạo hiểm cho CNNDS. Chính phủ cần đỡ đầu cho các dự án, sáng kiến để hỗ trợ phát triển thị trường và phát triển kỹ năng nhân lực cho CNNDS.

Về phát triển hạ tầng viễn thông, Internet

Tập trung đầu tư phát triển đồng bộ hạ tầng băng rộng; Đẩy mạnh đầu tư mở rộng băng thông và nâng cao chất lượng đường truyền viễn thông, Internet; Có cơ chế, chính sách để hạ giá cước thuê bao xuống bằng mức trung bình của khu vực. Đầu tư nâng cấp mạng 3G cho thông tin di động; Nâng cao chất lượng dịch vụ truyền dữ liệu qua mạng di động, giảm giá cước truy cập; Có chính sách thông thoáng, khuyến khích phát triển các dịch vụ trực tuyến để kích thích phát triển hạ tầng viễn thông, Internet; Mở rộng các loại hình kết nối (vệ tinh)…

Về đào tạo, phát triển nguồn nhân lực

Xây dựng, đưa vào chương trình đào tạo các khoá học, môn học chuyên ngành về nội dung số; Dành thêm nhiều chỉ tiêu cho đào tạo về phát triển nội dung số từ chương trình du học bằng tiền ngân sách (đề án 322, đề án 911); Tổ chức các khoá đào tạo nâng cao kỹ năng, cập nhật công nghệ phát triển nội dung số; Hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển nguồn nhân lực, chuyển giao công nghệ; Xúc tiến chương trình đào tạo sử dụng các công cụ phần mềm, phát triển nội dung số cho sinh viên các trường văn hoá, nghệ thuật; Đẩy mạnh đào tạo văn bằng 2 về công nghệ thông tin cho cán bộ, sinh viên các ngành khoa học xã hội, văn hoá, nghệ thuật. Tăng cường hợp tác quốc tế để đưa lao động trong CNNDS ra nước ngoài học tập, làm việc. Tổ chức các cuộc thi, giải thưởng về phát triển nội dung số để khuyến khích những điển hình xuất sắc.

Về phát triển thị trường sản phẩm và dịch vụ nội dung số

Tăng cường các biện pháp kích cầu thị trường trong nước bằng các loại hình sản phẩm, dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Đẩy mạnh hoạt động số hoá và xây dựng các thư viện điện tử, trung tâm thông tin điện tử quy mô quốc gia và vùng lãnh thổ. Xác định các loại hình sản phẩm, dịch vụ thông tin số có tiềm năng; Khuyến khích, hỗ trợ tạo lập nội dung thông tin số: Ban hành cơ chế ưu đãi các doanh nghiệp phát triển nội dung số; Khuyến khích việc số hoá các ấn phẩm, báo chí, sách phổ biến kiến thức. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế và khu vực: Xây dựng các dự án để có thể phát triển nội dung số đa ngôn ngữ, đa văn hoá, chú ý đến các sản phẩm bằng tiếng dân tộc thiểu số; Khuyến khích tận dụng khai thác nguồn thông tin (nội dung) trong nước và khu vực; Có cơ chế, chính sách hợp lý để thu hút các công ty nội dung số lớn trên thế giới đầu tư vào Việt Nam. Việc gia nhập WTO buộc Việt Nam phải nhanh chóng hội nhập quốc tế trong tất cả các ngành, lĩnh vực kinh tế.

Về tăng cường đầu tư cho nghiên cứu phát triển

Đầu tư cho các trường đại học làm nghiên cứu và phát triển về công nghệ cho CNNDS. Tận dụng tối đa các nguồn tài trợ, đầu tư cho nghiên cứu và phát triển nội dung số từ nước ngoài. Đầu tư xây dựng các cơ sở nghiên cứu phát triển, các phòng thí nghiệm về công nghệ để các doanh nghiệp có thể dùng chung. Nghiên cứu xây dựng và chuẩn hoá các tiêu chuẩn về phát triển nội dung số. Cởi mở, thông thoáng cơ chế chuyển giao công nghệ. Lập các trại sáng tác kịch bản, nội dung cho phim hoạt hình, chương trình cho truyền hình số…

Về tổ chức lại quy trình sản xuất sản phẩm số hoá

Phân công giữa người biên tập, sáng tác, cán bộ kỹ thuật và những người làm công tác kinh doanh tiếp thị. Phân tích nhu cầu và yêu cầu thị trường đối với sản phẩm và dịch vụ và có chiến lược kinh doanh thích hợp; Số hoá để sản xuất song song hai dạng sản phẩm: in ấn và điện tử hoặc tạo lập các nguồn tin điện tử trên các vật mang tin khác nhau được sử dụng đoạn tuyến hay trực tuyến.

4. Kết luận

CNNDS là một ngành kinh tế mới nhưng phát triển rất nhanh, Nhà nước cần nhanh chóng nhận diện rõ ngành kinh tế này để có biện pháp quản lý, thúc đẩy phát triển phù hợp. CNNDS là ngành kinh tế mang hàm lượng trí tuệ cao, lợi nhuận lớn, đồng thời là động lực và phương tiện để đẩy nhanh quá trình tiến tới xã hội thông tin, kinh tế tri thức. CNNDS sẽ là nền tảng để các chương trình ứng dụng công nghệ thông tin, chương trình Chính phủ điện tử, chương trình tin học hoá nền hành chính nhanh chóng đạt được mục tiêu. Là ngành kinh tế tốt có vai trò chủ chốt trong định hướng cạnh tranh hội nhập và phát triển xã hội trong tương lai. CNNDS được coi là một trong những động lực phát triển bền vững quốc gia. Từ sự khẳng định của lãnh đạo Nhà nước qua Quyết định 56/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, hy vọng CNNDS sẽ là nền tảng tạo tiền đề cho sự phát triển mạnh mẽ của ngành kinh tế quan trọng này trong những giai đoạn tiếp theo. CNNDS đã và đang phát triển ở Việt Nam và dần khẳng định vị trí của mình trên trường quốc tế.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Thông tin và Truyền thông. Dự thảo chương trình phát triển công nghiệp nội dung số đến năm 2010.

2. Châu Long. Phát triển công nghiệp nội dung số: Nguy nan tứ phía // Tạp chí Tin học và đời sống. - 2008. - Số 10 - Tr. 20-22

3. Chiến lược phát triển công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.

4. Đồng Đức Hùng. Ngành công nghiệp thông tin trong quá khứ hiện tại và tương lai // Kỷ yếu hội thảo khoa học Thông tin khoa học và công nghệ ngày nay. - Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, Hội Thông tin Tư liệu Việt Nam, 2009. - Tr. 51-55.

5. Kiều Gia Như. Singapore với công nghiệp thông tin và truyền thông // Tạp chí Thông tin và phát triển. - 2007. - Số 6 - Tr. 148-150.

6. Luật công nghệ thông tin. - H. : Chính trị Quốc gia, 2006. - 70tr.

7. Nghị định 71/2007CP quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện một số điều luật về công nghiệp thông tin.

8. Nguyễn Tuấn Khoa. Vai trò của thông tin và công nghiệp nội dung trong xã hội thông tin // Kỷ yếu hội thảo khoa học: Xã hội thông tin. - H.: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010. - Tr. 98-100.

9. Quyết định 56/2007/QĐTTg phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp nội dung số đến năm 2010.

10. Trần Minh. Sự gắn kết giữa thương mại điện tử và công nghệ thông tin trong chương trình phát triển công nghiệp phần mềm và chương trình phát triển công nghiệp nội dung số Việt Nam // Kỷ yếu hội thảo Quốc tế thương mại điện tử và Phát triển nguồn nhân lực. - 2011. - Tr 32-38.

11.Viện thông tin Khoa học xã hội Việt Nam. Những thách thức của sự phát triển trong xã hội thông tin // Thông tin khoa học xã hội - chuyên đề, 2005. - 208tr.

_____________

Bùi Thị Thanh Diệu

NCS K6, Ngành Thông tin - Thư viện, Đại học Văn hoá Hà Nội

Nguồn: Tạp chí Thư viện Việt Nam. - 2015. - Số 1. - Tr. 17-22.

 

Nghiên cứu, xây dựng chương trình nâng cao kiến thức thông tin cho sinh viên theo cách đánh giá của UNESCO

E-mail Print

Mở đầu

Từ khoảng cuối những năm 1990, đầu năm 2000, kiến thức thông tin (KTTT) là một chủ đề thu hút sự quan tâm của đông đảo giới nghiên cứu, giảng dạy cũng như đội ngũ người làm thư viện (NLTV) nói chung trên các phạm vi. Vấn đề quan trọng tới mức mà trong cơ cấu tổ chức của mình, IFLA đã có hẳn một bộ phận chuyên theo dõi và quan tâm đến vấn đề này (Information Literacy Section). Cũng theo hướng này, nhiều tổ chức trên thế giới đã nghiên cứu, xây dựng và phổ biến các tiêu chuẩn, mô hình về KTTT. Các kết quả nghiên cứu này là cơ sở khoa học và thực tiễn thiết yếu để các thư viện nói chung và thư viện đại học nói riêng triển khai các chương trình, kế hoạch nhằm nâng cao KTTT đối với cộng đồng người đọc của mình. Tiêu biểu trong số này là Mô hình KTTT 7 trụ cột (7 Pillars Model for Information Literacy) do Hiệp hội Thư viện đại học quốc gia và cao đẳng Anh (SCONUL) phổ biến năm 2004; Mô hình về 8 thành tố chính của KTTT do Viện đào tạo NLTV chuyên nghiệp Chareterd Anh (CILIP) phổ biến năm 2004; 9 tiêu chuẩn về KTTT do Hiệp hội NLTV trường học Mỹ (AASL) và Hiệp hội Truyền thông và Công nghệ giáo dục Mỹ (AECT) xây dựng và phổ biến [5, 6, 7]... Và gần đây nhất, năm 2013, UNESSCO đã xuất bản tài liệu mang tính chất cẩm nang tra cứu, hướng dẫn nghiệp vụ cho các thư viện và cơ quan thông tin (TT) trên toàn thế giới [4].

Từ trước đến nay, việc nâng cao KTTT cho sinh viên (SV) đã được triển khai, song mới chỉ dừng ở mức độ hết sức giản lược và nhìn chung các mục đích chính ở đây chỉ là hướng dẫn khai thác sử dụng một thư viện đại học cụ thể. Đã đến lúc, nếu chỉ duy trì việc mang đến cho bạn đọc nội dung đó, thì việc nâng cao KTTT ở đây chỉ mang tính chất chiếu lệ và vì thế khó có thể đánh giá về hiệu quả mà nó mang lại. Qua nghiên cứu, tìm hiểu tài liệu, thấy rõ tính chất phức tạp song đầy hấp dẫn của KTTT và nhiều nội dung có khả năng hấp dẫn và hữu ích nếu như đến được với SV. Bài viết đã giới thiệu nội dung chính của khung đánh giá KTTT của UNESCO, phác thảo khung chương trình nâng cao KTTT dành cho SV và việc tổ chức triển khai chương trình nâng cao KTTT cho SV tại thư viện đại học nhằm góp phần nâng cao KTTT cho SV, giới thiệu đầy đủ những giá trị của KTTT và nhằm đáp ứng được yêu cầu trong quá trình đổi mới giáo dục và đào tạo hiện nay.

1. Nội dung chính đánh giá về kiến thức thông tin của UNESCO

Hiện nay, tồn tại một số tiêu chuẩn mang tính chất quốc tế về KTTT. Về đại thể, các tiêu chuẩn này là sự cụ thể hoá ở những mức độ và cách tiếp cận khác nhau, phản ánh khả năng hay yêu cầu mà một người đạt được khi được trang bị một cách cơ bản và toàn diện về KTTT. Trên cơ sở các khái niệm đã được giới thiệu trong những nguồn TT khác nhau (từ điển ODLIS, CILIP, SCONUL…), có thể hệ thống hoá các nội dung chính của KTTT được thể hiện qua các khía cạnh sau:

- Hiểu rõ và thể hiện tường minh, chính xác, sát hợp nhu cầu tin, từ đó hiểu và biết rõ được mọi dạng tồn tại của TT phù hợp với nhu cầu tin này.

- Kỹ năng tìm được TT cần thiết, gồm cả sự hiểu biết về cách tổ chức của thư viện, các nguồn/ hệ thống TT; Sử dụng thuần thục các phương pháp, kỹ thuật, phương tiện tìm tin.

- Có kỹ năng tự tổ chức, quản lý TT; Có khả năng tích hợp TT thu nhận được vào nền tảng tri thức của bản thân.

- Có thói quen, luôn sẵn sàng và các kỹ năng cần thiết trong chia sẻ TT với người khác theo đúng luật, hợp đạo đức và có hiệu quả.

Trong tài liệu nêu trên, UNESCO đưa ra khái niệm kiến thức về TT và xuất bản (Media and Information Literacy – MIL). Theo đó, MIL là “tập hợp các năng lực giúp cho mọi người (công dân) có thể truy cập, tìm kiếm, hiểu, đánh giá và sử dụng; có thể tạo ra cũng như chia sẻ được nội dung TT và truyền thông ở mọi dạng thức, sử dụng được các công cụ khác nhau, có thể hiện quan điểm rõ rệt của cá nhân (trong việc sử dụng TT) và (các hoạt động trên được tiến hành) theo cách phù hợp với đạo đức và có hiệu quả nhằm tham gia và khuyến khích các hoạt động mang tính cá nhân, nghề nghiệp và xã hội” [4]. Về cơ bản, nội dung trên là hoàn toàn phù hợp với nội hàm của KTTT hiện đang được sử dụng. Đề cập tới KTTT ở đây, UNESCO nêu lên 3 mức độ, mà tương ứng với chúng là 3 phạm vi để đánh giá: mức độ vĩ mô là Xã hội, mức độ trung bình (meso level) là Tổ chức và mức độ vi mô là Cá nhân [4].

Từ mục đích chính của bài viết này, chúng tôi lựa chọn phân tích các vấn đề của KTTT ở mức độ vi mô và ở đây là việc giới thiệu cách thức mà UNESCO đã cụ thể hoá các khía cạnh tổng quát về KTTT đối với mỗi cá nhân. Bài viết sẽ chủ yếu dành để giới thiệu khía cạnh thứ nhất (Ma trận phản ánh năng lực KTTT - MIL Competency Matrix) của nội dung 2 (Năng lực KTTT - MIL Competencies)[1].

Ma trận phản ánh năng lực về KTTT được thiết lập trên cơ sở 3 yếu tố cấu thành là:

- Truy cập và Tìm kiếm.

- Hiểu biết và Đánh giá.

- Sáng tạo ra và Sử dụng.

alt

Khi đến lượt, từng yếu tố trên lại được diễn giải, phân tích, suy luận để có thể đi đến đích cuối là hiểu được nội dung của KTTT một cách chi tiết. 

 Logic trình bày này được diễn giải theo chiều từ cột bên trái chuyển qua cột kế tiếp bên phải của bảng trên [4].

Từ ma trận này cho thấy, theo quan điểm của UNESCO, người có KTTT là người có 12 khả năng đã được mô tả ở cột thứ 3.

2. Phác thảo khung chương trình nâng cao kiến thức thông tin cho sinh viên theo quan điểm của UNESCO

Mục đích ở đây là phác thảo được một khung chương trình nâng cao KTTT cho SV với ý đồ hướng đến giúp họ đạt được những khả năng mà UNESCO yêu cầu ở một mức độ xác định.

Thực tiễn hiện hay cho thấy, khi bước vào trường đại học, về cơ bản, các SV đã trang bị, tích luỹ được một số kỹ năng cơ bản liên quan tới KTTT sau:

- Sử dụng những bộ máy tìm kiếm tài liệu của các thư viện phổ thông (mục lục dạng phiếu, mục lục dạng sách, cơ sở dữ liệu thư mục…).

- Sử dụng một số dịch vụ phổ biến trên Internet (thư điện tử, facebook, truyền tệp, tìm tin trên các mạng công cộng miễn phí, các nguồn tin truy cập mở…).

- Tìm hiểu, thu thập TT về các tổ chức, cá nhân bằng việc truy cập các trang chủ tương ứng hay các nguồn tin hữu quan.

Khi bước vào học tập, nghiên cứu tại trường đại học, nhất là trong bối cảnh có những đổi mới sâu sắc và toàn diện về giáo dục, đào tạo (ví dụ, việc đào tạo theo phương thức tín chỉ đang dần được thay thế phương thức đào tạo theo niên chế trên một quy mô rộng rãi), thì vai trò của KTTT đối với SV ngày càng trở nên quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến cách thức và kết quả học tập, nghiên cứu của họ. Lúc này, phương thức học tập, nghiên cứu đòi hỏi khoảng thời gian mà SV phải thu thập TT, xử lý tài liệu (nguồn học liệu) để học tập, nghiên cứu được tăng lên rõ rệt so với cách thức đào tạo trước đây. Điều này đã làm thay đổi đáng kể vai trò và trách nhiệm của giảng viên, từ vị trí là người chủ động cung cấp kiến thức, TT, tri thức cho người học đến vị trí là người dẫn dắt, hướng dẫn SV tiếp cận tới các nguồn TT thích hợp, hoặc cũng có thể giúp SV biết cách chủ động tìm kiếm TT bổ trợ để tích luỹ được kiến thức, tri thức cho mình. Và lúc này, SV thực hiện việc học tương tự như quá trình một người nghiên cứu để đến được với tri thức khoa học [2, 7, 8, 10]. Trong bối cảnh mà ở đâu và việc gì trong trường đại học (liên quan trực tiếp đến việc học tập, nghiên cứu) đều thấy cần phải có TT, cần phải tiếp cận, truy cập, lựa chọn, đánh giá, khai thác, tạo lập, trao đổi TT, thì rõ ràng vai trò của thư viện đại học ngày càng được khẳng định, vai trò của KTTT đối với việc học tập và nghiên cứu ngày càng trở nên thiết yếu, quan trọng. Nói một cách giản lược, người SV hiện đại, người có thể thích ứng và tận dụng được các cơ hội mà sự đổi mới trong giáo dục và đào tạo mang đến là người có 12 khả năng nêu trên. Một chương trình nâng cao KTTT tích cực là một chương trình mà từng bước một làm cho SV có được những khả năng đó. Cũng cần lưu ý, dải phổ (độ dao động về trình độ/ mức độ) của các khả năng trên là khá lớn, điều đó làm cho việc nâng cao KTTT là một việc làm liên tục, gần như suốt đời, tựa như triết lý của việc học - Học! Học nữa! Học mãi! Và cũng vì thế mà có một thuận lợi trong việc xây dựng khung chương trình nâng cao KTTT ở đây là: Có thể khá mềm mỏng và linh hoạt, khả năng cá thể hoá cao [3] trong việc xác định các đích cần đến của chương trình đối với mỗi cộng đồng, mỗi giai đoạn khác nhau.

Tuy nhiên, để một chương trình hữu dụng như thế trở nên khả thi trong những điều kiện cụ thể hiện nay là một công việc không đơn giản, mà trước hết là ở việc xác lập được những nội dung thiết yếu, hợp lý, những mục đích thiết thực trong đó. Bởi xét cho cùng, các nguồn lực (bao gồm nhân lực, tài lực, vật lực và quỹ thời gian) mà mỗi thư viện đại học có thể sử dụng để triển khai chương trình này là hạn chế, nếu không muốn nói là rất hạn chế. Bởi vậy, một số trong các nguyên tắc để xây dựng chương trình ở đây phải là:

- Cần lồng ghép để đạt được ở mức tối ưu các hoạt động khác nhau hỗ trợ cho việc thực hiện mục tiêu mà chương trình đề ra [8, 10].

- Cần có chiến lược hợp lý và lâu dài trong việc thu hút các nguồn lực bên ngoài thư viện để thư viện luôn chú trọng tới việc xây dựng, triển khai các chương trình, dự án, đề án mang tính chất out-sourcing (thu hút/ tạo nguồn từ bên ngoài).

- Chương trình được xây dựng cần được tạo nên từ một số module tương đối độc lập với nhau, mà mỗi một module cũng có sự độc lập tương đối, để đạt được những mục tiêu cụ thể (tạo điều kiện để chương trình sẽ được triển khai một cách linh hoạt).

Trên cơ sở các phân tích và đối chiếu trên đây, có thể xác định một số nội dung trọng tâm cần được đề cập trong chương trình nâng cao KTTT cho SV theo quan điểm của UNESCO.

Chương trình có thể chia thành 4 nhóm mục tiêu chính như sau:

Mục tiêu 1: Nâng cao nhận thức.          

Mục tiêu 2: Nâng cao kỹ năng.

Mục tiêu 3: Nâng cao hiệu quả.

Mục tiêu 4: Nâng cao trách nhiệm.

Bảng dưới đây sẽ phân tích, đối chiếu để xác định mục đích và nội dung chính cần thực hiện để đạt được các mục tiêu đề ra (bảng dưới).

alt

alt

Như đã nêu, một nguyên tắc cơ bản trong xây dựng chương trình nâng cao KTTT ở đây là đòi hỏi phải có sự lồng ghép hợp lý việc thực hiện các nội dung cần nâng cao với các hoạt động khác nhau, chứ không phải chỉ thuần tuý là các bài giảng như thường thấy trước đây. Việc trình bày ở cột thứ 3: Nội dung chính (của chương trình, gồm 19 nội dung chính) dưới các hình thức ký tự khác nhau là có chủ đích thể hiện cách thức lồng ghép có thể được thực hiện tại đây. Cụ thể:

- Các nội dung được phản ánh dưới hình thức đoạn văn bản có gạch chân: Được thực hiện dưới dạng các bài giảng, các khoá tập huấn, đào tạo, mang tính chất chuyên môn, nghiệp vụ thư viện.

- Các nội dung được phản ánh dưới hình thức đoạn văn bản in nghiêng: Được thực hiện lồng ghép dưới dạng các hoạt động marketing mà các doanh nghiệp TT và xuất bản hướng đến cộng đồng người dùng tin trực tiếp.

Các nội dung được phản ánh dưới hình thức đoạn văn bản thông thường: Được thực hiện lồng ghép dưới dạng các seminar, các sinh hoạt khoa học chuyên đề do những chủ thể khác nhau thực hiện.

Phần dưới đây sẽ nêu cụ thể hơn cách thức huy động các nguồn lực để triển khai chương trình đã được xây dựng.

3. Tổ chức triển khai chương trình nâng cao kiến thức thông tin cho sinh viên tại thư viện đại học

Nhìn chung, một chương trình với mục tiêu nâng cao KTTT một cách toàn diện dù dành cho bất kỳ nhóm đối tượng nào thì cũng luôn là một chương trình lớn, cồng kềnh, chứa đựng nhiều nội dung phức tạp, đòi hỏi được triển khai dưới nhiều hình thức phong phú, đa dạng. Ở đây, đối tượng thụ hưởng chương trình là SV – đội ngũ tri thức, nguồn nhân lực khoa học chủ chốt và chiếm số lượng lớn nhất của xã hội học thức, của nền kinh tế dựa trên TT và tri thức của đất nước trong tương lai. Như vậy, có nghĩa là: các nội dung và mục tiêu mà chương trình này cần đạt được là ở mức cao nhất, với những đòi hỏi gắt gao nhất, với các nội dung cần được cập nhật nhanh nhất… Chính vì vậy, vấn đề tổ chức triển khai chương trình đóng vai trò quyết định trực tiếp đến việc các mục đích đề ra có đạt được như kỳ vọng hay không.

Trước hết cần khẳng định, đội ngũ trực tiếp triển khai chương trình là vô cùng quan trọng, có vai trò quyết định không chỉ tới chất lượng của chương trình, mà còn quyết định tới việc chương trình có triển khai được hay không. Và cũng cần khẳng định, những NLTV chuyên nghiệp hay một chuyên gia trong bất kỳ lĩnh vực nào cũng không thể có đủ điều kiện và khả năng thực hiện tất cả các nội dung chính nêu trên bởi tính chất và đòi hỏi của các nội dung này ở các lĩnh vực chuyên môn nghiệp vụ là rất khác nhau.

Bảng dưới đây phản ánh đề xuất chủ quan của chúng tôi để thực hiện các nội dung chính ở các khía cạnh: Module (đề xuất) - hình thức triển khai – nội dung bao quát và người thực hiện chính.

alt

Về nguyên tắc, mỗi module trên đây đều có các nội dung và mục đích tương đối độc lập với nhau. Do đặc điểm đối tượng thụ hưởng chương trình là SV đại học nên các module này có thể hoán vị về thời gian thực hiện với nhau. Tuy nhiên, chúng tôi khuyến nghị trật tự và khoảng thời gian thực hiện và các nhóm đối tượng cụ thể được thụ hưởng là như sau:

+ Các chủ đề nội dung 1, 2 và 3: Nên được tiến hành trước và hướng đến đối tượng là SV năm thứ nhất. Thời lượng: 10 tiết học.

+ Các chủ đề nội dung 4, 5 và 6: Nên được thực hiện kế tiếp và hướng đến đối tượng là SV năm thứ 2. Thời lượng: 10 tiết học.

+ Các chủ đề nội dung 7: Nên được thực hiện cuối cùng và hướng vào đối tượng là SV năm thứ 3 hoặc năm thứ 4. Thời lượng: 5 tiết học.

4. Kết luận

KTTT là một vấn đề mang tính liên ngành rất rõ rệt. Nó được hình thành và phát triển trên nền tảng thuộc nhiều lĩnh vực và phương diện khác nhau. KTTT được biết đến như sự phản chiếu tầm hiểu biết và tri thức ở mỗi người; như kỹ năng hay sự thuần thục của mỗi cá nhân khi khai thác các nguồn/ hệ thống TT; như đạo đức và ý thức trách nhiệm của mỗi thành viên trong một xã hội TT, trong một môi trường được bao bọc bởi TT, một bầu khí quyển TT… Cả về phương diện lý thuyết và thực tiễn, chỉ có những ai có KTTT ở phạm vi toàn diện, chỉ có những ai luôn tâm niệm làm sao để không ngừng nâng cao KTTT cho mình, thì người đó, chủ nhân đó mới thực sự trở thành một người góp phần thiết thực dựng xây một xã hội tri thức, xã hội học thức cho ngày hôm nay và ngày mai. Và chỉ khi đó họ mới có thể trở thành một công dân tích cực của xã hội, có những đóng góp bền bỉ và thầm lặng cho sự phát triển của xã hội, của đất nước, của cộng đồng và của chính mình. Và tất nhiên, cũng vì thế họ mới có thể là người đủ điều kiện và khả năng thụ hưởng được nhiều nhất từ các tiến bộ và sự phát triển mới nhất của xã hội.

Người SV có KTTT là người chuẩn bị tốt cho mình khả năng thích ứng với các đòi hỏi của xã hội ở mức cao hơn so với các SV khác và do vậy, họ dễ có một tương lai tốt đẹp cho cuộc sống và công việc của mình. Nâng cao kiến thức cho SV tại các thư viện đại học không chỉ là việc mang tới cho họ nhiều cơ hội hơn, mang tới cho họ một tương lai tốt đẹp hơn, mà quan trọng và căn bản hơn chính là chúng ta đang góp phần quan trọng vào việc mang đến cho tương lai một thế hệ tốt, một thế hệ giàu tri thức.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Lê Quỳnh Chi. Thư viện đại học góp phần nâng cao chất lượng đào tạo // Tạp chí Thư viện Việt Nam. - 2008. - Số 2. - Tr. 18-23.

2. 2012 top ten trends in academic libraries : A review of the trends and issues affecting academic libraries in higher education / ACRL Research Planning and Review Committee // College & Research Libraries.  – 2012. -  Newsvol. 73 . - No. 6 . – P. 311-320.

3. Chowdhury G. Digital libraries and reference service // Journal of Documentation. - 2002. - Vol 58. - No. 2. - P. 258-283.

4. Global Media and Information Literacy Assessement Framework : Country Readiness and Competencies / UNESCO Communication and Information Sector and UNESCO Institute of Statistics. - Paris: UNESCO, 2013. - 152 p.

5. Information Literacy Competcy Standards for Higher Education. http://www.ala. org/acrl/standards/informationliteracycompetency#ildef

6. Introduction to Information Literacy. http://www.ala.org/acrl/issues/infolit/overview/intro.

7. Information literacy - Definition. http://www.cilip.org.uk/cilip/advocacy-campaigns-awards/advocacy-campaigns/information-literacy/information-literacy.

8. Ingura M.M. Basic IL for teachers & librarians : Lecture delivered by MaryAnn Ingua last. - 2008. - 22/5. - 28 p.

9. Lundstrom K., Shrode F. Undergraduates and Topic Selection : A Librarian’s Role // Journal of Library Innovation. - 2013. - Vol. 4. - Issue 2. - P. 23-41.

10. Nera C.M. Information Literacy : the 21st Century Skills: Paper presented during the PLAI-STRLC Regional Conference on Promoting Information Literacy for Lifelong Learning. - 2006. - 25/9 at Capuchin Retreat Center, Lipa City, Batangas. - 48 p.

11. Redefining the Academic Library: Managing the Migration to Digital Information Services / University Leadership Council. - Washington DC.: The Advisory Board Company, 2011. - 51 p.

 


[1]Nội dung 1: Sự sẵn sàng của đất nước về KTTT (MIL Country Readiness). Khía cạnh thứ hai của nội dung 2 là Mô hình năng lực của người giảng dạy về KTTT (MIL Teacher Competency Model). Sđd, tr. 47.

___________________

Trần Mạnh Tuấn

Viện Thông tin Khoa học Xã hội

Nguồn: Tạp chí Thư viện Việt Nam. - 2015. - Số 1. - Tr. 9-16.

 

Đào tạo kiến thức thông tin trực tuyến trong thư viện đại học ở Việt Nam

E-mail Print

Đặt vấn đề

Ngày nay, sự phát triển công nghệ thông tin - viễn thông và sự gia tăng nhanh chóng các nguồn thông tin trên mạng Internet đã làm thay đổi thói quen dùng tin của sinh viên (SV). Phần lớn SV sử dụng Internet như nguồn thông tin chủ yếu và xem nhẹ các nguồn thông tin có giá trị cao của các thư viện đại học (TVĐH). Bên cạnh đó, nhiều SV gặp khó khăn trong việc đánh giá, chọn lọc và sử dụng thông tin một cách hợp lý để giải quyết các vấn đề trong học tập và nghiên cứu khoa học. Trước tình hình đó, các TVĐH đã tăng cường hoạt động đào tạo kiến thức thông tin (KTTT) nhằm trang bị cho SV những kỹ năng thông tin cần thiết để khai thác và sử dụng thông tin một cách hiệu quả nhất. Nhiều TVĐH trên thế giới đã phát triển đào tạo kiến thức thông tin trực tuyến (KTTTTT) như một phương thức để nâng cao hiệu quả đào tạo KTTT cho SV.

Trong những năm gần đây, nhiều TVĐH ở Việt Nam đã bắt đầu sử dụng phương thức đào tạo trực tuyến để trang bị KTTT cho SV. Tuy nhiên, chương trình đào tạo KTTTTT của các TVĐH còn có nhiều hạn chế về nội dung cũng như hình thức đào tạo.

1. Xu hướng phát triển đào tạo kiến thức thông tin trực tuyến trong thư viện đại học trên thế giới

Với sự phát triển của Internet và sự gia tăng nhu cầu truy cập, chia sẻ thông tin từ xa một cách nhanh chóng và tiện lợi, từ đầu thế kỷ 21 nhiều TVĐH đã bắt đầu cung cấp các chương trình đào tạo KTTTTT nhằm đa dạng hoá phương thức học KTTT của SV.

Chương trình đào tạo KTTTTT là một môi trường học tập điện tử tương tác được xây dựng nhằm hỗ trợ SV nắm bắt KTTT một cách hiệu quả [2]. Các chương trình đào tạo KTTT trên trang web của các TVĐH thường trang bị cho SV các kỹ năng thông tin cần thiết và giới thiệu những khái niệm KTTT cơ bản cùng các nguồn thông tin quan trọng. So với các lớp tập huấn KTTT truyền thống, các chương trình đào tạo KTTTTT đem lại cho SV “thế hệ mạng” - là những SV ưa thích công nghệ và có kỹ năng sử dụng web thành thạo nhiều thuận lợi như: Cho phép SV chủ động sắp xếp việc học theo cách của mình; Dễ dàng học ngay những kiến thức, kỹ năng cần thiết khi có nhu cầu; Cho phép SV có thể học đi học lại nhiều lần cho đến khi nắm vững kiến thức, kỹ năng cần thiết… Bên cạnh đó, các chương trình đào tạo KTTTTT cũng đem lại nhiều thuận lợi cho nhân viên thư viện, đặc biệt là cơ hội phát triển sự hợp tác giữa nhân viên thư viện với các giảng viên để lồng ghép việc giảng dạy KTTT trong các môn học. Nhân viên thư viện có thể hợp tác với các giảng viên để cung cấp các hướng dẫn về cách tìm kiếm, đánh giá và sử dụng thông tin liên quan đến một chuyên đề cụ thể. Ví dụ, có thể chỉnh sửa chương trình đào tạo KTTTTT chung của thư viện (TV) thành chương trình thích hợp cho một môn học cụ thể bằng cách thêm vào các bước tìm tin và các nguồn thông tin liên quan đến môn học đó.

Hiện nay, nhiều TVĐH sử dụng chương trình đào tạo KTTTTT để bổ sung hoặc đôi khi thay thế cho các lớp tập huấn KTTT được tổ chức theo phương thức truyền thống. Dưới đây là ví dụ về chương trình đào tạo KTTTTT của một số TVĐH trên thế giới.

- Tại trường Đại học Texas, Austin, Hoa Kỳ, chương trình đào tạo KTTT dựa trên web được tích hợp trong các môn học của năm thứ nhất và trang bị cho SV các kỹ năng chọn lọc nguồn thông tin, tìm tin trong các cơ sở dữ liệu (CSDL) và đánh giá thông tin trên Internet [5].

- Trường Đại học Cranfield ở nước Anh cung cấp một chương trình đào tạo KTTTTT thú vị, hấp dẫn, riêng biệt nhằm trang bị cho SV kiến thức, kỹ năng thông tin cơ bản cũng như nâng cao. Mỗi modul đều kèm theo bài kiểm tra và các hoạt động để SV tự kiểm tra mức độ tiếp thu bài học và khả năng ứng dụng vào thực tế. Chương trình được thiết kế với hai mức độ là cơ bản và nâng cao. SV có thể xem lướt qua chương trình để tìm những gì mình cần hoặc có thể đi sâu hơn và học tất cả những kiến thức, kỹ năng cần thiết để trở thành một người có trình độ KTTT cao [4].

Chương trình huấn luyện KTTT trên trang web Thư viện trường Đại học Trung Quốc của Hồng Kông (Chinese University of Hong Kong) có 7 module bao gồm: Các loại hình nguồn thông tin và các đặc trưng của chúng; Các chiến lược tìm tin hiệu quả; Sử dụng mục lục TV; Sử dụng các CSDL khoa học; Sử dụng Internet; Đánh giá các nguồn thông tin và trích dẫn các nguồn thông tin. Mỗi modul bao gồm các chuẩn đầu ra, nội dung cốt lõi, những quan niệm sai lầm và một bài kiểm tra mẫu. Chương trình cũng bao gồm các hoạt động có tính tương tác cao như trò chơi, hỏi và đáp… nhằm tăng sự hấp dẫn của quá trình học và giúp SV ứng dụng và nhớ những khái niệm đã được học [3].

Mặc dù có sự khác biệt về nội dung, phương thức đào tạo và cách trình bày, các chương trình đào tạo KTTTTT đều tuân theo các tiêu chuẩn về KTTT cho SV đại học của Hiệp hội thư viện đại học và nghiên cứu Hoa Kỳ (Association of College and Research Libraries - ACRL).

Nhìn chung, các chương trình đào tạo KTTTTT của TVĐH rất hữu ích đối với SV, giảng viên và nhân viên TV. Tuy nhiên, các chương trình này cũng có nhiều hạn chế như thiếu sự hấp dẫn, sử dụng nhiều văn bản, được trình bày như những bài học độc lập, thiếu sự kết nối với các môn học, thiếu tính tương tác… Vì vậy, các TVĐH trên thế giới vẫn không ngừng tìm kiếm các giải pháp khắc phục những hạn chế nêu trên và tạo thêm nhiều tiện ích, tính năng nhằm nâng cao hiệu quả của chương trình đào tạo KTTTTT. Đặc biệt, nhiều TVĐH quan tâm đến việc kết hợp chương trình đào tạo KTTTTT với các lớp học KTTT truyền thống nhằm giúp các chuyên gia TV thực hiện đào tạo KTTT sâu hơn cho cộng đồng người dùng tin trong trường đại học [1].

2. Phát triển đào tạo kiến thức thông tin trực tuyến trong các thư viện đại học ở Việt Nam

Hiện nay phần lớn các TVĐH ở Việt Nam chỉ cung cấp trên trang web TV các hướng dẫn và hỗ trợ sử dụng các sản phẩm, dịch vụ thông tin - thư viện như cách sử dụng OPAC, cách tìm tin trong các CSDL, cách sử dụng dịch vụ tra cứu... Chỉ có một số TVĐH cung cấp chương trình đào tạo KTTTTT như: Trung tâm Thông tin – Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội với “Hệ thống kiểm tra kỹ năng sử dụng TV” cho phép SV làm bài kiểm tra trắc nghiệm kỹ năng sử dụng TV; Trung tâm Học liệu Đại học Huế với chương trình “Phổ cập thông tin” bao gồm các nội dung như: Phương pháp tìm kiếm thông tin trên mạng và đánh giá; Hướng dẫn bước đầu thực hiện đề tài nghiên cứu; Hướng dẫn cách lập danh mục tài liệu tham khảo…[10].

Các hướng dẫn sử dụng TV và chương trình đào tạo KTTTTT của các TVĐH ở Việt Nam có một số điểm chung như sau:

1- Nội dung đơn giản, tập trung chủ yếu vào cách tìm kiếm thông tin bằng các nguồn tin hoặc công cụ tìm tin có tại các TV như OPAC, các CSDL hoặc mạng Internet. Không chú trọng các kỹ năng thông tin khác như cách xác định nhu cầu tin, đánh giá các nguồn thông tin, sử dụng thông tin hợp lý…;

2- Hình thức đào tạo không đa dạng, chủ yếu là cung cấp các bài học lý thuyết về KTTT. Thiếu các hình thức có tính tương tác cao và lôi cuốn người sử dụng như bài tập trực tuyến, bài kiểm tra trắc nghiệm, trò chơi, hỏi – đáp,…;

3- Hình thức trình bày đơn điệu, chủ yếu ở dạng văn bản, thiếu sự hấp dẫn đối với người sử dụng.

Để phát triển các chương trình đào tạo KTTTTT nhằm hỗ trợ SV học và ứng dụng các kiến thức, kỹ năng thông tin một cách thuận tiện và đạt hiệu quả cao, các TVĐH ở Việt Nam có thể áp dụng một số giải pháp như sau:

* Tăng cường nội dung đào tạo: Để trang bị cho SV những kiến thức và kỹ năng thông tin cần thiết, chương trình đào tạo KTTTTT cần tập trung vào những nội dung sau:

- Kỹ thuật tìm tin và đánh giá thông tin

+ Chiến lược tìm tin: Các chiến lược tìm tin cơ bản, cách xây dựng một chiến lược tìm tin.

+ Kỹ thuật tìm tin: Cách tìm theo từ khoá, tìm theo chủ đề.

+ Các công cụ tìm tin: Cách sử dụng mục lục thư viện, CSDL, OPAC, các loại tài liệu tra cứu, Internet…

+ Đánh giá thông tin: Cách đánh giá và chọn lọc các kết quả tìm được, các tiêu chí đánh giá các nguồn thông tin.

- Cách tổ chức và trình bày thông tin

+ Cách trích dẫn thông tin.

+ Cách tổ chức thông tin và lập danh mục tài liệu tham khảo.

+ Cách tổng hợp thông tin.

- Cách sử dụng thông tin hợp lý

+ Đạo văn: Cách nhận biết và tránh đạo văn.

+ Luật bản quyền và luật sở hữu trí tuệ.

- Các nguồn tài nguyên thông tin và sản phẩm, dịch vụ thông tin - thư viện

+ Giới thiệu các nguồn tài nguyên thông tin của TV hoặc TV có thể truy cập;

+ Hướng dẫn sử dụng các sản phẩm, dịch vụ thông tin - thư viện.

Chương trình đào tạo nên chú trọng các kỹ năng ứng dụng lý thuyết vào thực tế với nội dung cụ thể, phù hợp với người dùng tin. Không nên đưa vào chương trình những nội dung quá tổng quát hoặc quá chuyên sâu, không cần thiết cho người dùng tin. Tốt nhất nên xây dựng các chương trình với nội dung ở hai mức độ khác nhau là cơ bản và nâng cao nhằm thoả mãn nhu cầu của những người dùng tin có trình độ KTTT khác nhau. Đặc biệt, các TV cần thường xuyên cập nhật nội dung chương trình đào tạo dựa trên yêu cầu của người dùng tin.

* Đa dạng hoá phương thức đào tạo: Để tạo tiện ích và hứng thú cho người sử dụng, các TVĐH cần đa dạng hoá cách thức chuyển tải nội dung đào tạo. Bên cạnh các bài học lý thuyết, các TV nên áp dụng các phương thức khác như sau:

Định hướng vấn đề: Hướng dẫn người sử dụng các kỹ năng thông tin thông qua việc giải quyết một vấn đề thực tế, ví dụ như cách xác định yêu cầu tin và tìm tin trong một CSDL cụ thể để thực hiện một báo cáo chuyên đề hay làm một đề tài nghiên cứu khoa học;

- Các hình thức học tập tích cực với các bài tập trực tuyến, thi đố, trò chơi…;

- Mô phỏng tình huống: Hướng dẫn cách thực hiện một số thao tác hoặc công đoạn cụ thể, ví dụ thao tác gia hạn mượn tài liệu, đăng ký sử dụng dịch vụ mượn liên TV, các bước tạo một danh mục tài liệu tham khảo…

- Đổi mới hình thức trình bày: Để tăng sức hấp dẫn, thu hút người sử dụng, các TV cần:

+ Tăng cường sử dụng hình ảnh, đồ hoạ, âm thanh, phim ảnh… để trình bày và minh hoạ các chương trình đào tạo KTTTTT.

+ Thiết kế giao diện thân thiện để thu hút người sử dụng tham gia các chương trình đào tạo.

* Tăng cường tiện ích cho người sử dụng:

- Đặt các chương trình đào tạo và hướng dẫn sử dụng ở vị trí dễ nhìn thấy trên trang web TV;

- Hỗ trợ người sử dụng tìm kiếm những nội dung cần thiết theo nhiều cách khác nhau như tìm theo chủ đề, tìm theo từ khoá;

- Sử dụng ngôn ngữ đơn giản, dễ hiểu đối với người sử dụng;

- Cung cấp nhiều hình thức trợ giúp người sử dụng;

- Có nhiều hình thức để người sử dụng phản hồi ý kiến đánh giá hoặc đề xuất về chương trình đào tạo.

Kết luận

Sự phát triển mạng Internet đã mở ra cơ hội mới để đa dạng hoá phương thức đào tạo nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo KTTT cho SV đại học. Để phát triển các chương trình đào tạo KTTT trực tuyến một cách hiệu quả, các TVĐH ở Việt Nam cần thực hiện các giải pháp đồng bộ và phù hợp với điều kiện thực tế của TV cũng như nhu cầu của người dùng tin là SV.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Abby Kasowitz. Information Literacy Instruction in Higher Education : Trens and Issues. http://www.ericdigests.org, truy cập ngày 13/01/2014.

2. Lai Fong Li, Shirley Leung. Promoting Information Literacy Skills through Web-based Instruction : The Chinese University of Hong Kong Library Experience // Library Management. – 2007. - Vol. 28, No. 89. - P. 531-539.

3. Shiao-Feng Su, Jane Kuo. Design and Development of Web-based Information Literacy Tutorials //Journal of Academic Librarianship. – 2010. - Vol. 36, No. 4. - P. 320-328.

4. http://www.cranfield.ac.uk truy cập ngày 28/12/2013.

5. http://www.lib.utexas.edu truy cập ngày 28/12/2013.

6. http://www.cukh.edu.hk truy cập ngày 13/01/2014.

7. http:// libguides.sjsu.edu/tutorials truy cập ngày 13/01/2014.

8. http://www.lic.vnu.edu.vn truy cập ngày 13/01/2014.

9. http://www.lrc.ctu.edu.vn truy cập ngày 13/01/2014.

10. http://www.lrc-hueuni.edu.vn truy cập ngày 13/01/2014.

11. http://www.lirc.udn.vn truy cập ngày 13/01/2014.

12. http://www.vnulib.edu.vn truy cập ngày 13/01/2014.

________________

TS. Ngô Thanh Thảo

Khoa Thư viện - Thông tin học, trường ĐH KHXH&NV Tp.HCM

Nguồn: Tạp chí Thư viện Việt Nam. - 2014. - Số 3. - Tr. 3-6.

 

Ứng dụng phần mềm quản trị thư viện tích hợp mã nguồn mở koha giải pháp tốt cho hệ thống thư viện đại học, cao đẳng ở Việt Nam

E-mail Print

Phần mềm tự do mã nguồn mở (PMTDNM) từ lâu đã không còn là khái niệm quá xa lạ đối với chúng ta trong thời đại công nghệ thông tin như hiện nay. Từ những thập niên 1980 tới nay, PMTDNM đã trở nên phổ biến và dần trở thành một xu hướng trên thế giới. Vậy PMTDNM là gì?

PMTDNM là phần mềm có mã nguồn được công bố công khai và tôn trọng sự tự do của người sử dụng cũng như cộng đồng. Bất cứ người dùng nào cũng có thể tự do sử dụng, sao chép, nghiên cứu, thay đổi, cải tiến và phân phối phần mềm [5].

Một câu hỏi được đặt ra là, tại sao việc sử dụng PMTDNM lại trở thành một xu hướng trên thế giới? Bởi vì PMTDNM giống như một món quà tặng và chúng ta không chỉ được miễn phí về giá mua mà còn được miễn phí về bản quyền trên cơ sở giấy phép mã nguồn mở. PMTDNM được cung cấp dưới cả 2 dạng mã nguồn và mã dịch. Chỉ cần có mã nguồn của phần mềm và có quy định về giấy phép PMTDNM là người sử dụng có thể tự do sửa đổi, cải tiến, nâng cấp và phát triển chúng mà không cần xin phép ai hay cơ quan tổ chức nào về bản quyền. Điều khác biệt nổi bật so với các phần mềm mã nguồn đóng.

Việc sử dụng PMTDNM giúp chúng ta giảm chi phí trong việc mua các phần mềm bản quyền, tiết kiệm thời gian trong việc phát triển phần mềm, giảm thiểu các vi phạm bản quyền, thông tin được an toàn hơn trong vấn đề bảo mật và đặc biệt là hiệu quả sử dụng cho công việc cũng tốt hơn. Trái ngược với các phần mềm bản quyền, PMTDNM cung cấp các mã nguồn. Dựa vào đó, bất cứ cơ quan, tổ chức nào cũng có thể tuỳ biến để lựa chọn những tính năng phù hợp, đáp ứng nhu cầu đặc biệt trong tổ chức của mình, điều đó tạo nên nét độc đáo và khác biệt cho họ. PMTDNM có nhiều tính năng nổi trội nên việc ứng dụng và phát triển nó đã và đang trở thành xu thế trên thế giới, trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực thông tin - thư viện.

Koha là phần mềm thư viện nguồn mở (PMTVNM) hiện đang được cộng đồng rất quan tâm, nhất là những người làm trong lĩnh vực thông tin - thư viện hay người yêu thích thư viện trên toàn thế giới.

Koha là hệ quản trị thư viện tích hợp – Integrated Library System (ILS) mã nguồn mở đầu tiên trên thế giới, phát triển đầu tiên tại New Zealand bởi Katipo Communications Lts cho Thư viện Horowhenua Library Trust (HLT) [7].

Koha ngày nay đang rất phát triển và được cập nhật theo xu thế mới nhất, các tính năng của Koha liên tục hoàn thiện thông qua các phiên bản mới nhằm mở rộng việc đáp ứng các yêu cầu của người dùng. Koha có đầy đủ các tính năng của một ILS hiện đại, có khả năng tuỳ biến một cách mềm dẻo, linh hoạt, vì thế mà nó có thể phù hợp với bất cứ loại hình thư viện nào như thư viện công cộng, thư viện của các cơ quan tổ chức, các đơn vị quân đội, vũ trang,… và đặc biệt là thư viện các trường đại học.

Về mặt nghiệp vụ, Koha được xây dựng trên các khung chuẩn chung của thư viện thế giới và đảm bảo khả năng tương thích với các hệ thống khác một cách dễ dàng. Koha tự động hoá hoàn toàn các chức năng và quy trình nghiệp vụ trong thư viện tương ứng với các phân hệ: Bổ sung, biên mục, ấn phẩm định kỳ, opac, lưu thông và đặc biệt là phân hệ báo cáo thống kê. Các quy trình nghiệp vụ này được kiểm soát một cách chặt chẽ, tạo nên sự tích hợp logic giữa các chức năng. Koha giúp giảm thiểu các công việc trùng lặp, tái sử dụng kết quả của các bộ phận khác có liên quan. Koha giúp quản lý tài liệu trong thư viện, quản lý người dùng, quản lý các loại phí thanh toán, phí mượn - trả với từng loại tài liệu… một cách đơn giản mà hiệu quả. Ngoài ra, Koha còn có một số ưu điểm sau:

• Giao diện web nên có thể tích hợp với các trang web, cổng thông tin.

• Khổ mẫu nghiệp vụ thư viện chuẩn MARC 21, UNIMARC.

• Hỗ trợ đa ngôn ngữ.

• Không giới hạn người sử dụng.

• Đặt mượn và gia hạn mượn trực tuyến.

• Làm việc offline với Firefox.

• Có giao thức tải bản ghi tự động Z39.50.

• Tuỳ biến giao diện OPAC.

• Xuất nhập bản ghi theo định dạng chuẩn ISO 2709.

• Gửi email cho độc giả mượn quá hạn và các thông báo đính kèm.

• Các giao diện người dùng thân thiện và dễ sử dụng…

Hiện nay, trên thế giới đã và đang có rất nhiều các thư viện lớn sử dụng phần mềm Koha, ví dụ như Trung tâm nghiên cứu Roland Mousnier, Thư viện của Viện nghiên cứu Unite de Logique, Universite de Paris Jussieu; Thư viện trường Đại học Universite Rennes 2… ở Thủ đô Pari nước Pháp. Ở Vương quốc Anh, tại thành phố London có thư viện đặc biệt Booz & Co, Thư viện trường Đại học Notre Dame, trường Đại học Boston Study Abroad, thư viện của tổ chức từ thiện The Feminist… Hay ở Trung Quốc, có Thư viện trường Đại học Thanh Hoa ở thủ đô Bắc Kinh, Thư viện công cộng Tần Tây An ở Sơn Tây… Ở Thái Lan, có Thư viện trường Quốc tế Shrewsbury, Thư viện Đại học Thammasat, Thư viện Học viện Rose Marie. Ngoài ra, Koha cũng được sử dụng rộng rãi ở các nước khác trên thế giới như: Argentina, Colombia, Venezuela, Indonesia, Malaysia, Philippines…[6].

Có thể nói, việc ứng dụng phần mềm thư viện Koha tại Việt Nam vẫn chưa được phổ biến. Có một số thư viện trường học trên địa bàn Hà Nội đã và đang sử dụng Koha như Thư viện Đại học Tài chính - Ngân hàng, Thư viện Đại học Đại Nam và Thư viện trường quốc tế Wellsprings [3]. Nền giáo dục nước ta đang có xu hướng phát triển mạnh mẽ, đồng nghĩa với điều đó là số trường học cũng được tăng lên nhanh chóng. Tuy nhiên, trong hệ  thống thư viện ngành giáo dục nói chung và thư viện các trường đại học nói riêng thì các cơ quan đơn vị ứng dụng Koha để phát triển thư viện còn quá ít. Phải chăng các thư viện ở Việt Nam vẫn chưa nhìn nhận đúng về giá trị thực sự và những tính năng của PMTDNM này, nhất là các thư viện đại học.

Xét trong xu hướng phát triển của giáo dục, sinh viên đã và đang trở thành trung tâm của quá trình dạy và học. Họ được học tập trong môi trường ngày càng rộng mở, linh hoạt và chủ động tiếp nhận tri thức mới. Trên thực tế, việc đổi mới phương pháp dạy và học rất cần sự hỗ trợ của thư viện để họ có thể chủ động hơn trong việc tiếp thu kiến thức, lấy việc tự học, tự nghiên cứu làm vấn đề trọng tâm được đặt lên hàng đầu.

Nguyên Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân cũng đã khẳng định “Việt Nam đang hướng đến nền kinh tế tri thức. Điều này đòi hỏi mọi người dân phải có cơ hội và được hỗ trợ để học tập, nâng cao kỹ năng một cách thường xuyên. Vì vậy, học tập suốt đời có vai trò trọng tâm trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội toàn diện của Việt Nam”. Điều này càng thực sự quan trọng hơn đối với sinh viên – những lao động tri thức tương lai của đất nước. Từ đây chúng ta phải đặt ra câu hỏi các thư viện đại học cần phải làm gì và bắt đầu từ đâu để có thể đáp ứng tốt được các yêu cầu này?

Nhìn lại nguồn ngân sách hoạt động của các thư viện Đại học, đó là một vấn đề đáng quan tâm bởi nó chính là một trong những yếu tố tác động trực tiếp đến sự phát triển của thư viện. Nguồn ngân sách ấy sẽ phải chia thành rất nhiều khoản cho từng hoạt động trong quy trình thư viện từ việc bổ sung tài liệu, xây dựng sửa chữa trụ sở và mua các trang thiết bị, cho tới việc trang bị các phần mềm quản trị. Đồng nghĩa với điều đó là nhu cầu tin của bạn đọc khó có thể thoả mãn bởi nguồn kinh phí cho việc bổ sung tài liệu bị hạn chế. Yếu tố cần và đủ để các hoạt động được hoàn thành tốt đó là nguồn kinh phí phải được đảm bảo. Một giải pháp quan trọng mà các thư viện cần nghĩ tới lúc này là làm thế nào để có thể tối ưu hoá chi phí trong khi đó các hoạt động của thư viện vẫn được đảm bảo tốt? Vấn đề đầu tiên cần đưa ra ở đây là chi phí cho việc mua phần mềm thư viện. Việc sử dụng các phần mềm quản trị thư viện mã nguồn mở thay cho các phần mềm bản quyền để có thể tiết kiệm được chi phí sử dụng cho các hoạt động khác. Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) cũng đã rất quan tâm về việc sử dụng PMNM cho các cơ sở giáo dục. Trong phụ lục kèm theo Thông tư số 08/2010/TT-BGDĐT ngày 01/03/2010 của Bộ GDĐT đã liệt kê danh sách các PMTDNM được khuyến khích sử dụng trong ngành giáo dục, trong mục 6 về các phần mềm thư viện có bao gồm phần mềm tích hợp quản trị thư viện mã nguồn mở Koha [4].

Chúng ta thử đặt một giả thiết rằng nếu thư viện không phải trả kinh phí tốn kém cho việc mua phần mềm thì số tiền ấy có thể mua thêm bao nhiêu tài liệu phục vụ bạn đọc? Có một thực tế vẫn tồn tại trong suy nghĩ của những người làm thư viện ở nước ta là sử dụng PMTDNM không tốt bằng phần mềm bản quyền. Tuy nhiên, với PMTDNM như Koha thì trong nó đã chứa đựng tất cả những tính năng của một ILS với những ưu điểm như đã nêu ở trên. Tất cả các chu trình hoạt động của thư viện đều được tích hợp trong Koha từ việc bổ sung, biên mục, báo cáo… hay việc quản trị hệ thống. Việc chuyển đổi cơ sở dữ liệu từ các phần mềm cũ sang Koha cũng được thực hiện một cách dễ dàng. Một tính năng khác nữa của Koha là có thể đặt mượn online, offline, đọc các bình luận, đánh giá của người đã sử dụng cuốn sách đó hay đề xuất thư viện mua tài liệu… Các giao diện của Koha rất thân thiện với người sử dụng và không quá phức tạp, điều đó không những tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ thư viện làm việc dễ dàng hơn mà còn giúp cho những người sử dụng chúng tìm kiếm tài liệu cũng được thực hiện một cách nhanh chóng. Có hàng nghìn thư viện trên thế giới đã và đang sử dụng Koha [6] bởi họ đã nhận thấy những ưu điểm và tính năng vượt trội của nó, vậy tại sao ở Việt Nam việc sử dụng PMNM này cho các thư viện vẫn chưa được phổ biến rộng rãi.

Có thể các thư viện đang phân vân trong việc lựa chọn sử dụng Koha vì chưa biết đến các tổ chức cá nhân có thể hỗ trợ cài đặt và hướng dẫn sử dụng nó. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay đã và đang có cộng đồng phát triển Koha khá mạnh mẽ bởi các tổ chức thư viện như: Diễn đàn thư viện, diễn đàn Koha, mạng thông tin - thư viện Việt Nam, hay các thành viên của cộng đồng phần mềm mã nguồn mở Vfossa... Cá nhân tiêu biểu trong cộng đồng Koha ở Việt Nam phải kể đến ông Lê Bá Lâm, Trưởng phòng Thông tin và mạng, Trung tâm Thông tin - Thư viện, trường Đại học Quốc gia Hà Nội. Thêm vào đó, cộng đồng sinh viên, nghiên cứu sinh trong và ngoài nước cũng đã tham gia phổ biến và phát triển Koha rất tích cực như ông Nguyễn Quốc Uy... Ngoài ra còn có các sinh viên, thạc sĩ hay những người đang làm nghiên cứu sinh cũng lấy Koha làm đề tài nghiên cứu cho khoá luận, luận văn và luận án của mình.

Theo ý kiến đánh giá của ông Lê Bá Lâm - người đã từng sử dụng và nghiên cứu nhiều ILS, cũng là người có bề dày kinh nghiệm trong lĩnh vực thư viện thì: “Hệ quản trị thư viện tích hợp mã nguồn mở Koha là một phần mềm thư viện hiện đại, đầy đủ tính năng áp dụng các chuẩn quốc tế, có nhiều tính năng nổi trội, tiện ích trong hệ thống thư viện tích hợp và luôn luôn hướng tới sự hoàn thiện; là giải pháp thư viện điện tử hoàn hảo cho tất cả các thư viện Đại học và là cơ hội lớn cho các thư viện trong hệ thống thư viện ở Việt Nam".

Qua đây, các thư viện nói chung và thư viện đại học nói riêng cần nhìn nhận lại thực tế hiện trạng thư viện của mình để xây dựng một chiến lược phát triển thư viện phù hợp. Có thể nói, thư viện ngày nay đóng một vai trò to lớn trong quá trình đổi mới giáo dục, đổi mới văn hoá - xã hội... Trong điều kiện khó khăn về tài chính cũng như trình độ công nghệ thông tin của các thư viện ở Việt Nam thì việc sử dụng PMTDNM sẽ là giải pháp đúng đắn nhất để giải quyết các vấn đề trên. Chất lượng hoạt động của một thư viện được đánh giá dựa trên khả năng làm thoả mãn các nhu cầu tin của người sử dụng. Chúng ta cần đưa ra các bài toán, các giả thiết để có cái nhìn tổng thể về thư viện, từ đó có các giải pháp thích hợp để phát triển thư viện của mình.

Koha mới được bắt nguồn ở New Zealand từ năm 2000, tuy nhiên nó đã được cộng đồng quốc tế đón nhận rộng rãi. Hai dự án quốc tế tiêu biểu về Koha ở Tây Ban Nha và Thổ Nhĩ Kỳ đã được thông qua. Đó là dự án của Bộ Văn hoá Tây Ban Nha về việc xây dựng Koha thành phần mềm ứng dụng cho toàn bộ các thư viện trực thuộc Bộ Văn hoá Tây Ban Nha. Và dự án thứ hai là ứng dụng phần mềm quản trị thư viện tích hợp Koha cho hệ thống thư viện công cộng ở Thổ Nhĩ Kỳ. Dự án này được khởi xướng bởi Bộ Văn hoá - Du lịch Thổ Nhĩ Kỳ và trường Đại học Phương Đông. Mục đích của dự án này là đồng nhất hệ thống thư viện công cộng của Thổ Nhĩ Kỳ sử dụng Koha và hoạt động theo thẩm quyền của Bộ Văn hoá - Du lịch. Dự án này được thực hiện bởi 1.112 chi nhánh thư viện, với hơn 800 nghìn người sử dụng và tổng số biểu ghi thư mục hiện tại là khoảng 8 triệu biểu ghi [9].

Ở Việt Nam, tuy số thư viện sử dụng PMNM này chưa nhiều song chính những tính năng và ưu điểm vượt trội của Koha đã hứa hẹn sự có mặt của nó ở toàn bộ hệ thống thư viện Việt Nam trong một tương lai không xa [6].

Hãy phát triển thư viện của bạn cùng với Koha và phát triển Koha cùng cộng đồng thư viện trên thế giới.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Bộ Giáo dục và Đào tạo. Đề án đổi mới giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020.

2. Bùi Loan Thuỳ. Thư viện Đại học phục vụ hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ đáp ứng yêu cầu của học chế tín chỉ // Tạp chí Thông tin và Tư liệu. – 2008. - Số 4. - Tr. 14-17.

3. Kết quả khảo sát thực trạng sử dụng phần mềm thư viện tại 50 thư viện trường Đại học, Cao đẳng và trường quốc tế tại Hà Nội (tháng 11/2013).

4. Thông tư số 08/2010/TT-BGDĐT ngày 01/03/2010 của Bộ Giáo dục đào tạo. http://www.moet.gov.vn/

5. Http://www.gnu.org

6. Http://koha.vn

7. Http://www.koha.org

8. Http://letrungnghia.mangvn.org/

9. Http://lists.katipo.co.nz/pipermail/koha/2013- January/035344.html

10. Http://www.oss.gov.vn/

11. Http://vfossa.vn

12. Http://vietnamlib.net

13. Http://wiki.koha-community.org/

_________________

Dương Thị Thu Thủy

Công ty Cổ phần Tư vấn và Tích hợp Công nghệ D&L 

Nguồn: Tạp chí Thư viện Việt Nam. - 2014. - Số 2. - Tr. 24-27.

 

Một số nhân tố ảnh hưởng tới việc phát triển kiến thức thông tin cho sinh viên

E-mail Print

Sự phát triển của “xã hội thông tin” và “nền kinh tế tri thức” đang đòi hỏi người lao động phải có năng lực tư duy, kỹ năng giải quyết vấn đề một cách sáng tạo cũng như khả năng học tập suốt đời để thích ứng với sự phát triển nhanh chóng của xã hội. Trong bối cảnh đó, kiến thức thông tin (KTTT) nổi lên như một trong những kỹ năng quan trọng nhất trong xã hội thông tin [6], bởi lẽ trang bị KTTT cho sinh viên (SV) là đảm bảo cho họ năng lực học tập suốt đời, họ sẽ là những người “biết cách học” [8].

Nhận thức được tầm quan trọng của KTTT, nhiều nước phát triển như Hoa Kỳ, Úc, Canada, các nước thuộc Liên minh châu Âu đã triển khai đào tạo KTTT cho SV và coi KTTT như một trong các chuẩn đầu ra đối với SV. Uỷ ban Giáo dục Đại học các bang miền Trung Hoa Kỳ cho rằng “KTTT là thành tố cần thiết đối với bất cứ chương trình đào tạo nào ở các trình độ khác nhau” [7]. Với ý nghĩa đó, nghiên cứu này tập trung tìm hiểu một số nhân tố ảnh hưởng tới công tác phát triển KTTT cho SV đại học.

Định nghĩa về kiến thức thông tin

Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về KTTT. Theo UNESCO, “KTTT là sự kết hợp của kiến thức, sự hiểu biết, các kỹ năng và thái độ mà mỗi thành viên cần hội tụ đầy đủ trong xã hội thông tin. Khi mỗi cá nhân có KTTT thì họ sẽ phát triển khả năng lựa chọn, đánh giá, sử dụng và trình bày thông tin một cách hiệu quả” [15]. Đây là một định nghĩa khá rộng đòi hỏi người có KTTT không những có trình độ mà còn có thái độ đúng đắn trong việc sử dụng thông tin. Điều này có nghĩa là người có KTTT phải sử dụng thông tin một cách có đạo đức. Việc truy cập, sử dụng và phổ biến thông tin phải phù hợp với pháp luật.

Theo Hiệp hội Thư viện Đại học và Nghiên cứu Hoa Kỳ, KTTT là “tập hợp các khả năng cho phép mỗi cá nhân có thể nhận ra khi nào họ cần thông tin, có khả năng định vị, đánh giá và sử dụng thông tin cần thiết có hiệu quả” [3]. Theo đó, KTTT là tập hợp các khả năng có liên quan đến thông tin và tất cả các kỹ năng này được xây dựng trên nền tảng của nhu cầu tin.

Boekhorst cho rằng tất cả các định nghĩa và mô tả về KTTT được trình bày trong thời gian qua được tóm tắt thành ba khía cạnh [5]:

Khía cạnh công nghệ thông tin và truyền thông (ICT): KTTT đề cập đến khả năng sử dụng ICT để tra cứu và phổ biến thông tin.

Khía cạnh các nguồn thông tin: KTTT đề cập đến khả năng tìm và sử dụng thông tin một cách độc lập hoặc với sự trợ giúp của trung gian.

Khía cạnh tiến trình thông tin: KTTT đề cập đến tiến trình nhận ra nhu cầu tin, tra cứu, đánh giá, sử dụng và phổ biến thông tin theo yêu cầu hoặc mở rộng kiến thức. Khái niệm này bao gồm cả khái niệm ICT và khái niệm các nguồn tin.

Qua các định nghĩa trên chúng ta thấy rằng KTTT không chỉ đơn thuần là kỹ năng khai thác thông tin trên mạng hoặc thông tin trong các tài liệu truyền thống. KTTT bao gồm nhiều kỹ năng như định hướng nhu cầu thông tin, sử dụng các công cụ tìm tin có hiệu quả và khả năng thẩm định các nguồn tin. Trang bị KTTT giúp con người chủ động hơn trong học tập, nghiên cứu và hướng tới khả năng tự học suốt đời (lifelong learning).

Một số nhân tố ảnh hưởng tới công tác phát triển kiến thức thông tin cho sinh viên

Phát triển KTTT cho SV hiệu quả phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác nhau. Nghiên cứu này chỉ tập trung tìm hiểu một số nhân tố chính có tác động trực tiếp trong môi trường giáo dục đại học bao gồm: văn hoá nhà trường, động cơ của SV, trình độ của cán bộ thư viện (CBTV), phương pháp giảng dạy của giảng viên, sự phối hợp của giảng viên và cán bộ thư viện, sự phát triển của ICT.

Văn hoá nhà trường

Văn hoá nhà trường là một tập hợp các chuẩn mực, các giá trị, niềm tin và hành vi ứng xử… đặc trưng của một trường học, tạo nên sự khác biệt với các tổ chức khác. Văn hoá nhà trường liên quan đến toàn bộ đời sống vật chất, tinh thần của một nhà trường. Nó biểu hiện trước hết trong tầm nhìn, sứ mạng, triết lý, mục tiêu, các giá trị, phong cách lãnh đạo, quản lý… Văn hoá nhà trường thể hiện thông qua các chuẩn mực, các giá trị, niềm tin, quy tắc ứng xử… được xem là tốt đẹp và được mỗi người trong nhà trường chấp nhận.

Với ý nghĩa đó, xây dựng văn hoá nhà trường có vai trò hết sức quan trọng, yếu tố quyết định sự phát triển của nhà trường. Xây dựng văn hoá nhà trường là một nhiệm vụ phải đặt lên hàng đầu và được thể hiện thông qua một số nội dung như: Xây dựng tầm nhìn, sứ mệnh và phương châm hành động của nhà trường; Xây dựng môi trường sư phạm lành mạnh, tập thể đoàn kết; Xây dựng môi trường học thuật và tác phong làm việc khoa học; Tổ chức cho cán bộ, giảng viên, nhân viên tham gia học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, lý luận chính trị và tham gia các hoạt động xã hội; Xây dựng không gian cảnh quan nhà trường. Một khi văn hoá nhà trường đã ổn định nó sẽ ảnh hưởng đến việc ra các quyết định về quản lý, thiết kế chương trình đào tạo, tuyển dụng và duy trì giảng viên, các mối quan hệ với các thành viên của cộng đồng.

Phát triển KTTT cho SV phụ thuộc nhiều vào văn hoá nhà trường bởi lẽ phát triển KTTT cho SV có liên quan mật thiết với sứ mạng, tầm nhìn, các quyết định, chương trình đào tạo, nguồn nhân lực của mỗi trường. Vì vậy các thư viện đại học cần cố gắng áp dụng quan điểm văn hoá để phân tích cơ hội phát triển KTTT cho SV trong trường đại học vốn rất phức tạp bởi sự chồng chéo, giao nhau của các nhu cầu văn hoá được các thành viên thực hiện bắt nguồn từ văn hoá của tổ chức, văn hoá của các lĩnh vực khoa học và văn hoá của cộng đồng các nhà chuyên môn.

Kuh và Whitt cho rằng văn hoá trường đại học có thể hỗ trợ các sáng kiến phát triển KTTT cho SV [13]. Các chuẩn mực, giá trị, phương thức, niềm tin được hình thành trong cộng đồng trường đại học sẽ hướng dẫn hành vi của các cá nhân và nhóm. Cụ thể, nếu trường đại học có chính sách xây dựng môi trường học thuật, khuyến khích giảng viên và SV nghiên cứu khoa học, hạn chế và đẩy lùi các tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong học tập thì nhu cầu sử dụng thông tin khoa học cũng như nhu cầu nâng cao trình độ KTTT của cán bộ, giảng viên và SV trường đó sẽ không ngừng phát triển.

Văn hoá nhà trường còn thể hiện ở khía cạnh tôn trọng pháp luật và đạo đức trong nghiên cứu khoa học của giảng viên và SV. Ở Việt Nam cũng như các nước trên thế giới không hiếm trường hợp các nhà khoa học, giảng viên và SV đạo văn. Đạo văn dẫn đến hậu quả là ngày càng ít người nghiên cứu thực sự và ngày càng nhiều kẻ gian lận sao chép các công trình nghiên cứu của nhau. Một khi người làm nghiên cứu sao chép của người khác họ sẽ không có hoặc giảm bớt nhu cầu sử dụng thông tin khoa học, nhu cầu sử dụng thư viện và cũng không có nhu cầu nâng cao trình độ KTTT. Nếu trong trường đại học SV và nghiên cứu sinh chép luận văn, luận án của người khác mà nhà trường không có biện pháp ngăn chặn, xử lý thích đáng những vi phạm thì hiện tượng này sẽ lan rộng và khi đó công tác phát triển KTTT cho SV sẽ không thu được hiệu quả.

Văn hoá nhà trường ảnh hưởng tới vai trò của CBTV với tư cách là người giảng dạy KTTT cho SV. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng các giảng viên thường không biết về vai trò giảng dạy của CBTV đại học [11]. Điều đáng chú ý là ngay cả cộng đồng CBTV đại học cũng không nhất quán về vai trò của CBTV như là giáo viên. Cuộc tranh luận đang diễn ra trong văn hoá chuyên môn của chính CBTV có thể ảnh hưởng đến công tác phát triển KTTT cho SV đại học. Trong một số trường hợp văn hoá trường đại học nhấn mạnh đến vai trò của thư viện trong việc hỗ trợ SV học tập và nghiên cứu khoa học, nó không chắc rằng thư viện sẽ thực hiện thành công các sáng kiến về KTTT cho SV nếu văn hoá của thư viện đại học xem CBTV như người xây dựng bộ sưu tập chứ không phải là giáo viên - người phối hợp giảng dạy KTTT cho SV. Walter cho rằng phát triển "văn hoá giảng dạy" trong các thư viện đại học rất quan trọng không chỉ đối với giáo dục chuyên môn cho CBTV, mà còn là sự hỗ trợ quan trọng cho chương trình KTTT [14]. Chương trình giảng dạy KTTT tồn tại trong một mạng lưới phức tạp của các văn hoá trong nhà trường. Để thúc đẩy sự thành công chương trình KTTT cho SV, điều quan trọng là hiểu được các khía cạnh văn hoá của mỗi trường đại học cụ thể. Hiểu biết sâu sắc mọi khía cạnh văn hoá trong khuôn viên trường là quan trọng đối với các nhà quản lý thư viện để sẵn sàng áp dụng quan điểm văn hoá cho công việc của mình như là một phần của bất kỳ sáng kiến KTTT nào cho SV.

Động cơ của sinh viên

Khái niệm động cơ thực sự rất khó để định nghĩa và dường như các nhà lý thuyết học đã không thể thống nhất để đưa ra một định nghĩa chung cho khái niệm này. Theo Gardner động cơ bao gồm bốn khía cạnh, đó là mục tiêu, sự nỗ lực, sự mong muốn đạt được mục tiêu đó và thái độ tích cực đối với hoạt động đang được nói đến [9]. Ames & Ames định nghĩa động cơ là sự thúc đẩy để tạo ra và duy trì những ý định và các hành động tìm kiếm mục tiêu [4]. Như vậy, động cơ quan trọng vì nó quyết định mức độ tham gia và thái độ tích cực của SV đối với việc học.

Động cơ học tập là “một động lực thúc đẩy SV học tập, trên cơ sở nhu cầu hoàn thiện tri thức, mong muốn nắm vững tiến tới làm chủ tri thức mà mình được học tập, làm chủ nghề nghiệp đang theo đuổi”. Động cơ học tập là một thành phần quan trọng trong hoạt động học tập của SV. Nó quyết định mục đích và thúc đẩy hoạt động học tập của SV.

Kết quả từ một nghiên cứu gần đây của PGS.TS. Nguyễn Công Khanh, trường Đại học Sư phạm Hà Nội cho thấy có một tỷ lệ cao SV (54,5%) không hứng thú trong các bài giảng. Vấn đề đặt ra đâu là nguyên nhân chán học của SV? Trong số các nguyên nhân khác nhau chắc chắn có việc SV chưa xác định được đúng đắn các mục tiêu làm động cơ tự thân cho việc học của mình. Vì vậy, các nhà giáo trước khi dạy tri thức, rèn luyện kỹ năng, phải dạy cho người học biết rằng: Học tập là mục tiêu tự thân [1]. Chỉ khi nào SV tự xác định được và/ hay nhà trường giúp SV xác định được những mục tiêu học tập đúng đắn cho chính họ làm động cơ tự thân thì họ mới tích cực nỗ lực học tập. Vậy mục tiêu học KTTT mà giảng viên và CBTV cần hướng cho SV là gì để thu hút được họ nhiệt tình học tập? Jacobson và Xu cho rằng "để duy trì SV quan tâm đến tài liệu và KTTT, SV phải nhận thức được rằng nó có liên quan đến mục tiêu cá nhân của họ” [12]. Do đó, tài liệu thư viện cung cấp phải liên quan đến SV, nội dung chương trình KTTT phải gắn liền với các môn học của SV, liên quan mật thiết tới nhu cầu học tập của SV. Mục tiêu của SV trong thời gian học tập là học tập đạt kết quả cao thông qua chương trình đào tạo tại trường. Điều quan trọng và đương nhiên là phải thiết kế KTTT như một phần của chương trình giảng dạy trong nhà trường. KTTT cần được tích hợp vào các môn học để ràng buộc và khuyến khích SV có động cơ học tập hơn là một sự lựa chọn [10].

Trình độ cán bộ thư viện

Như chúng ta đã biết, muốn đào tạo KTTT cho SV trước hết cán bộ tham gia thiết kế chương trình và triển khai đào tạo phải được trang bị tốt về KTTT. Điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc phát triển KTTT trong trường đại học. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng CBTV sẽ là người đóng vai trò quan trọng trong việc phối hợp với giảng viên, khoa chuyên ngành, là người khởi xướng, xây dựng chính sách, chương trình KTTT cho SV.

Trình độ CBTV thể hiện ở nhiều bình diện khác nhau như: kinh nghiệm giảng dạy, trình độ chuyên môn (ngành khoa học thư viện), trình độ ngoại ngữ và tin học, kiến thức về các ngành đào tạo của trường đại học mà mình phục vụ, năng lực KTTT và kỹ năng giao tiếp. Đối với người giảng dạy KTTT nếu thiếu các loại trình độ trên sẽ không thể đảm bảo giảng dạy KTTT hiệu quả cho SV. Trình độ về khoa học thư viện thông tin sẽ giúp CBTV nắm được cách thức tổ chức và khai thác thông tin, kỹ năng đánh giá thông tin và nguồn tin; trình độ về tin học sẽ giúp CBTV khai thác mạng và sử dụng các thiết bị tin học, phần mềm ứng dụng trong lưu trữ và khai thác thông tin hiệu quả; kiến thức về ngoại ngữ mà đặc biệt là tiếng Anh sẽ giúp họ nắm bắt được nhiều nguồn thông tin giá trị trên thế giới; trình độ KTTT giúp họ nắm được các kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng tư duy độc lập, các vấn đề đạo đức, xã hội có liên quan đến sử dụng thông tin; kỹ năng giao tiếp giúp CBTV trong giảng dạy và truyền đạt nội dung KTTT cho SV.

Phương pháp giảng dạy của giảng viên

Theo lý luận dạy học thì phương pháp giảng dạy là cách thức hoạt động của người dạy và người học, được thực hiện trong quá trình dạy học, tác động đến người học và việc học để đạt được mục tiêu học tập. Phương pháp giảng dạy là một trong những yếu tố quan trọng và ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng đào tạo. Phương pháp giảng dạy khoa học, phù hợp sẽ tạo điều kiện để giảng viên và người học phát huy hết khả năng của mình trong việc truyền đạt, lĩnh hội kiến thức và phát triển tư duy cho người học.

Phương pháp giảng dạy trực tiếp tác động đến nhu cầu thông tin của SV. Nếu giảng viên sử dụng phương pháp giảng dạy chủ yếu là đọc chép, cách truyền thụ kiến thức một chiều dẫn đến phương pháp học tập của SV rất thụ động, không tạo cho SV thói quen tự học, tự nghiên cứu và tư duy sáng tạo, một điều rất quan trọng trong việc phát triển của SV về sau. Hậu quả của phương pháp này là SV chỉ học thuộc những gì thầy giáo đọc cho chép và như vậy SV cũng không có nhu cầu tìm kiếm, xử lý, đánh giá và sử dụng thông tin khoa học trong quá trình học tập. Ngược lại, nếu giảng viên là người hướng dẫn, hỗ trợ và tư vấn cho SV tìm chọn và xử lý thông tin, động viên họ tích cực tham gia vào quá trình nâng cao năng lực nhận thức và tư duy, chỉ dẫn và giúp đỡ họ phát triển các kỹ năng học tập độc lập, khi đó nhu cầu nâng cao năng lực KTTT của SV sẽ phát triển để đáp ứng yêu cầu của giảng viên trong quá trình học tập. Nhu cầu KTTT của SV có mối quan hệ nhân quả với phương pháp giảng dạy của giảng viên và phương pháp học tập của SV.

Sự phối hợp giữa cán bộ thư viện với giảng viên

Gần đầy hầu hết các nghiên cứu về phát triển KTTT cho SV đại học đều khẳng định rằng lồng ghép KTTT vào chương trình giảng dạy đại học là con đường tốt nhất để trang bị KTTT cho SV [2,3,16,17]. Để tích hợp KTTT vào chương trình đào tạo thành công cần sự phối hợp giữa CBTV và giảng viên trong việc thiết kế chương trình giảng dạy, phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả đầu ra của SV, cung cấp học liệu cho quá trình dạy học và nghiên cứu, hướng dẫn giảng viên và SV các nguồn thông tin liên quan đến môn học. Song để CBTV và giảng viên làm việc được với nhau cần đến văn hoá phối hợp, hợp tác trong môi trường đại học. Ngoài kiến thức về thư viện, CBTV cần có kiến thức về chuyên ngành mà giảng viên đang đảm nhiệm. Kiến thức chuyên ngành là cầu nối giúp giảng viên và CBTV có thể làm việc cùng nhau, giúp CBTV nắm được nhu cầu thông tin của cả thầy và trò, từ đó giới thiệu cho họ những nguồn thông tin phù hợp nhất. Đây chính là điểm yếu của nhiều CBTV đại học ở Việt Nam - họ chỉ được đào tạo về chuyên ngành thông tin - thư viện.

Công nghệ thông tin

Sự phát triển của công nghệ thông tin (CNTT) và đặc biệt là Internet đã tác động ngày càng sâu rộng đến giáo dục đại học, trong đó có hình thức giảng dạy. Ngày nay, SV đã quen với việc dành nhiều thời gian rảnh của họ trên Internet, học tập và trao đổi thông tin thông qua các mạng xã hội. Điều đó khiến các thư viện đại học phải lựa chọn các hình thức mới thay thế mô hình giảng dạy KTTT truyền thống trên lớp trước đây. Song song với hình thức tích hợp KTTT vào các bài giảng của giảng viên, nhiều thư viện đại học trên thế giới đã triển khai hình thức học KTTT trên mạng như cung cấp bài giảng trực tuyến, đưa các video bài giảng lên mạng, sử dụng các ứng dụng của mạng xã hội như blog, facebook, youtube để phổ biến các bài học về KTTT cho SV.

Hơn nữa, ICT đã tạo ra sự bùng nổ thông tin và làm nảy sinh nhu cầu nâng cao trình độ KTTT của người dùng tin. Trên bình diện này, CNTT đã làm thay đổi cách thức khai thác, lưu trữ, phổ biến, sử dụng thông tin của người sử dụng nói chung và SV nói riêng. Người dùng tin ngày nay không thể nhìn bằng mắt thường những thông tin được lưu trữ trên các vật mang tin mới như USB, ổ cứng, đĩa CD,… mà phải nhờ đến thiết bị đọc chuyên dụng. Hơn nữa, ngày nay con người sử dụng nhiều phần mềm khác nhau để tổ chức và khai thác thông tin, điều đó khiến người sử dụng phải học cách khai thác thông tin trên mỗi loại phần mềm riêng. Với ý nghĩa đó, CNTT đã làm thay đổi nội dung, phương thức mà các thư viện phát triển KTTT cho SV.

Phát hiện ra các nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp đến công tác phát triển KTTT cho SV ở trên sẽ giúp các thư viện đại học trong quá trình lập kế hoạch và triển khai chương trình đào tạo KTTT cho SV hiệu quả hơn. Việc phát triển KTTT cho SV không chỉ phụ thuộc vào người dạy và người học, mà còn phụ thuộc vào văn hoá nhà trường nói chung, sự phát triển của ICT, phương pháp giảng dạy của giảng viên, động cơ học tập của SV, sự phối hợp giữa CBTV và giảng viên. Các nhân tố này vừa có tính độc lập tương đối lại vừa có mối quan hệ gắn kết qua lại với nhau. Để công tác phát triển KTTT cho SV hiệu quả đỏi hỏi các trường đại học đồng thời phải đáp ứng các nhân tố nói trên ở mức tốt nhất có thể.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đỗ Quốc Bảo. Học tập là mục tiêu tự thân. http://cnts.hua.edu.vn/index.php? option=com_content&task=view&id=486&Itemid=296 (truy cập ngày 15/12/2013).

2. Lồng ghép kiến thức thông tin vào môn học ở bậc đại học thông qua mối quan hệ giữa thư viện và giảng viên / Vũ Thị Nha dịch // Tạp chí Thư viện Việt Nam. - 2007. - Số 3. - Tr. 49-59.

3. American Library Association. Association of College and Research Libraries. Information Literacy Competency Standards for Higher Education. htp://www.ala. org/ala/acrl/acrlstandards/informa- tionliteracycompetency.htm (truy cập ngày 18/6/2012)

4. Ames, C. and Ames, R. Research in motiva- tion in education. - San Diego : Academic Press, 1989.

5. Boekhorst A. K. Becoming information liter- ate in the Netherlands // Library Review . - 2003. - No. 52 (7). - P. 298-309.

6. Boekhorst A. K. Information literacy at school level : a comparative study between the Netherlands and South Africa // South African journal of Library and Information Science. - 2004. - No. 70 (2). - P. 63-71.

7. Characteristics of Excellence in Higher Education. http://www.msche.org/ publications/CHX06_Aug08REVMarch09.pdf (truy cập ngày 22/7/2013).

8. CILIP [Chartered Institute of Library and Information Professionals]. Information Literacy : Definition. http://www.cilip.org.uk/policyadvocacy/informationliteracy/ definition/ default.htm (truy cập ngày 22/4/2013).

9. Gardner R. C. Social psychology and Second Language Learning. - London : Edward Arnold Ltd, 1985.

10. Haipeng Li. Information literacy and librarian - faculty collaboration : A model for success // Chinese Librarianship: an International Electronic Journal. - 2007. - No. 24.

11. Ivey R. T. Teaching faculty perceptions of academic librarians at Memphis State University // College & Research Libraries. - 1994. - No. 55(1). - P. 69-82.

12. Jacobson  Trudi  E.  and  Xu  Lijiuan. Motivating Students in Information Literacy Classes. - New York : Neal-Schuman Publishers, 2004.

13. Kuh G. D. and Whitt E. J. The invisible tap- estry : Culture in American colleges and universities // ASHE-ERIC Higher Education Report. - 1988. - No. 1.

14. Walter S. Improving instruction : what librarians can learn from the study of college teach- ing" // Currents and convergence: Navigating the rivers of change: Proceedings of the twelfth nation- al conference of the Association of College and Research Libraries. – Chicago : Association of College & Research Libraries,  2005. - Tr. 363-379.

15. UNESCO. Development of information litera- cy through school libraries in South-East Asian coun- tries (IFAP Project 461RAS5027) // UNESCO Bangkok, Asia and Pacific Regional Bureau for Education, Bangkok. http://eric.ed.gov/ ERICWebPortal (truy cập ngày 12/12/2012).

16. Wang X. Integrating information literacy into higher education curricula : an IL curricular inte- gration model. – Queensland : Queensland University of Technology, 2010.

17. Young, James B. and Williams, Ashley Taliaferro. The Integration of Information Literacy Skills in a Year-long Learning Community Program : A Faculty and Librarian Collaboration. - Ypsilanti, Michigan : University Library of Eastern Michigan University, 2003. - P. 20.

_____________________

ThS. Trương Đại Lượng

Trường Đại học Văn hoá Hà Nội 

Nguồn: Tạp chí Thư viện Việt Nam. - 2014. - Số 2. - Tr. 18-23.

 

 
More Articles...
Page 36 of 239