NGHIỆP VỤ THƯ VIỆN



Mô hình không gian học tập ở các thư viện đại học

E-mail Print

Sứ mệnh, mục tiêu của nhà trường. Giáo dục đại học hiện nay yêu ứ mệnh của thư viện các trường đại học luôn song hành với cầu cần có sự chuyển biến mạnh mẽ để đáp ứng theo nhu cầu thời đại: đào tạo theo học chế tín chỉ, đổi mới phương pháp giảng dạy - lấy người học làm trung tâm, nâng cao năng lực tự học và học tập suốt đời của người học. Trong xu thế đó, các thư viện học thuật cũng phải chuyển đổi một cách tích cực để tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của mình trong sự nghiệp giáo dục. Ở Việt Nam, trong một thập niên gần đây, thư viện các trường đại học đã được đầu tư và phát triển khá nhanh cả về cơ sở vật chất lẫn các loại hình dịch vụ. Đó là những thư viện được trang bị hiện đại, nguồn học liệu phong phú, đội ngũ nhân viên được đào tạo bài bản và cung cấp nhiều dịch vụ tiện ích theo mô hình các thư viện tiên tiến trên thế giới. Có thể kể đến trong số này là bốn Trung tâm học liệu lớn ở Huế, Đà Nẵng, Cần Thơ và Thái Nguyên được tổ chức Atlantic Philanthropies tài trợ đã mang đến một sức sống mới cho hệ thống thư viện đại học trong nước. Trong những năm qua, những thư viện học thuật này đã hoạt động khá hiệu quả, không ngừng cải tiến các dịch vụ và nâng cấp hoạt động để đáp ứng nhu cầu của người dùng tin. Tuy nhiên, để tiếp tục thu hút người dùng tin và đóng góp tích cực cho sự thành công của trường đại học, các thư viện cần thay đổi mạnh mẽ hơn nữa. Một trong những thay đổi cần được bàn đến trong bài viết này là sự thành lập các không gian thông tin (Information Commons), tiến tới xây dựng các không gian học tập (Learning Commons), kèm theo đó là sự chuyển đổi vai trò của các cán bộ thư viện thành những chuyên gia thông tin hoạt động ở phạm vi sâu rộng, tích cực hơn trong môi trường học thuật. Mô hình này đã được nhiều thư viện đại học trên thế giới xây dựng và vận hành, nhờ đó sẽ giúp cho chúng ta có được những cái nhìn thực tiễn và kinh nghiệm quý báu.

Không gian thông tin và Không gian học tập là gì?

Khái niệm Không gian thông tinKhông gian học tập thường được dùng thay thế cho nhau nhưng giữa chúng có sự khác biệt đáng kể. Khái niệm Không gian thông tin đã xuất hiện từ những năm 90 của thế kỷ XX. Theo tác giả Donald Beagle, một trong những tác giả đề cập đến khái niệm này đầu tiên thì không gian thông tin là “một cụm các điểm truy cập mạng và những công cụ công nghệ thông tin đi kèm cùng với các nguồn tài nguyên vật lý, kỹ thuật số, nhân lực và xã hội được tổ chức để hỗ trợ việc học tập” [3]. Trong khi đó không gian học tập là một bước nâng cao của việc phát triển mô hình không gian thông tin. Không gian học tập vượt ra ngoài phạm vi cụm công cụ công nghệ thông tin và các tài nguyên hỗ trợ việc học để “phối hợp và tổ chức các sáng kiến học tập cộng tác với các bộ phận học thuật khác để hỗ trợ các mục đích và kết quả học tập”. Hay theo tác giả Roe: “Không gian học tập chú trọng sự hướng dẫn và cộng tác trong khi không gian thông tin thường chú trọng kỹ thuật và các nguồn tài nguyên số” [3]. Tác giả Sinclair mô tả ý nghĩa và khả năng của một không gian học tập được thiết kế tốt là: “Phối hợp sự tự do của giao tiếp không dây, những cụm làm việc linh hoạt thúc đẩy sự giao tiếp và hợp tác. Trang bị nội thất, nghệ thuật và thiết kế tiện nghi làm cho người dùng cảm thấy thư giãn, khuyến khích sự sáng tạo và hỗ trợ việc học cùng nhau. Thêm vào đó các dịch vụ tự đồ hoạ, biên tập băng hình, ảnh và những phần mềm sản xuất và trình diễn khác khiến nó trở thành một môi trường chia sẻ công nghệ thông tin và truyền thông “một cửa” cho các bài tập ngoài lớp học, viết, nghiên cứu và các dự án nhóm” [3].

Các yếu tố cơ bản của một không gian học tập

Định hướng học tập: Hỗ trợ việc học tập chủ động, độc lập và hợp tác.

Người học trung tâm: Chú trọng vào những nhu cầu, sở thích và các kiểu làm việc của sinh viên.

Mở rộng trong trường đại học: Là một phần của việc phát triển quyền tự chủ của người học trong khắp trường đại học. Sự phát triển quyền tự chủ của người học được tích hợp vào mỗi học phần và không gian học tập sẵn sàng hỗ trợ điều này ở mỗi khu đại học. Sự hỗ trợ ở mỗi khu đại học có thể khác nhau, nhưng có một không gian học tập cho từng khu đại học.

Tính linh động: Đáp ứng đối với những thay đổi về nhu cầu của người học đối với các nguồn tài nguyên và sự hỗ trợ.

Tính hợp tác: Dựa trên sự hợp tác giữa các khu vực hỗ trợ học tập khác nhau trong trường đại học.

Toà nhà cộng đồng: Cung cấp một trung tâm cho sự giao tiếp thực thể và giao tiếp ảo giữa cán bộ giảng viên và sinh viên.

Không gian, trang thiết bị

Nhiều nghiên cứu cho thấy thiết kế về không gian trong không gian học tập là một phần hợp nhất với thành công của nó. Theo Narum: “Không gian cần được thiết kế với mục đích khuyến khích sinh viên học tập chứ không chỉ đơn thuần phù hợp với hoạt động của thư viện”. Không gian học tập cần là một không gian mở khuyến khích sự trao đổi, giao tiếp xã hội và đáp ứng nhiều kiểu học tập khác nhau: nơi học yên tĩnh cá nhân, các khu vực dành cho thảo luận nhóm với nhiều quy mô khác nhau. Việc học bao gồm cả khía cạnh cá nhân và khía cạnh xã hội, do đó cần kết hợp giữa không gian yên tĩnh với không gian xã hội sống động nơi được phép có tiếng ồn [4]. Để phục vụ những nhu cầu phong phú này cần có sự đa dạng nhiều tầng nấc không gian tuỳ thuộc vào các hoạt động được yêu cầu từ yên tĩnh đến bận rộn, từ chỗ ngồi nhanh đến ngồi lâu, từ cá nhân đến hoạt động nhóm. Sinh viên cần có được các tuỳ chọn về không gian dựa trên công việc họ đang làm và mức độ xao nhãng mà họ muốn.

Bên cạnh đó, tác giả Bennett cho rằng thư viện có thể trở thành một nơi mà sinh viên học tập chủ động, ví dụ như là trao đổi nội dung bài giảng trên lớp. Nhiều nghiên cứu cho thấy những hình thức trao đổi này đã không dễ dàng diễn ra trong thư viện nhưng lại diễn ra trong những không gian cởi mở hơn như quán cà phê hay nhà ăn của trường học. Bennett chỉ ra rằng việc có các cửa hàng thức ăn trở thành một đặc điểm tiêu chuẩn của thiết kế thư viện [2]. Trên thực tế một số không gian học tập đã có khu vực riêng được thiết kế thân thiện để sinh viên có thể sử dụng thức ăn và đồ uống, ví dụ như không gian thông tin Auchmuty ở Đại học Newcastle.

Không gian học tập chắc chắn là một môi trường giàu công nghệ, nên cung cấp sự truy cập đến những công nghệ mà sinh viên cần để học tập hiệu quả. Ở một cấp độ nào đó, sinh viên có thể làm việc từ những tìm kiếm đầu tiên trong thư viện đến sản phẩm cuối cùng tại cùng một chỗ. Nhà quản lý thư viện có thể đảm bảo rằng các cụm máy tính trong môi trường này có các phần cứng, phần mềm và công nghệ cần thiết để thực hiện tất cả những điều sinh viên muốn và cần cho việc học chính thức và không chính thức. Việc học không chính thức thu hút sinh viên khám phá và học hỏi về những chủ đề không nhất thiết liên quan đến các bài tập trên lớp. Điều này khuyến khích việc tự khám phá, cái mà có thể là động lực giúp sinh viên theo đuổi việc học tập lâu dài suốt cuộc đời [7]. Một vài đặc điểm công nghệ cần có trong một không gian học tập bao gồm:

- Các máy tính sẵn có cho việc nghiên cứu, đánh văn bản và truy cập Internet.

- Các máy in.

- Mạng không dây.

- Các sản phẩm đa phương tiện.

- Không gian lưu trữ cho công việc của sinh viên.

- Khu vực cho mượn tài nguyên của thư viện như tài liệu, máy tính xách tay, thiết bị video,…

Nhiều không gian học tập phục vụ 24/7 như không gian thông tin của Đại học Nam California, trong đó cán bộ tham khảo chịu trách nhiệm đến 19 giờ, khoảng thời gian còn lại là sinh viên trực. Có những không gian học tập là những phần có thể tách rời với thư viện, sau giờ thư viện đóng cửa sinh viên có thể quét thẻ để vào. Một cách thức khác để không gian học tập có thể phục vụ mọi lúc mọi nơi là tạo nên một không gian ảo. Trong thực tế, nhiều nguồn tài nguyên của thư viện hiện nay ở dạng trực tuyến, có thể phục vụ bạn đọc ở mọi nơi, không bị ngăn cách bởi không gian vật lý. Đối với những trường đại học có nhiều khu vực thì không gian học tập ảo trở nên quan trọng vì nó có thể hỗ trợ những người dùng không thể hoặc không muốn trực tiếp đến tận nơi. Nhiều thư viện vận hành trang web riêng cho không gian học tập.

Sự phối hợp với các bộ phận học thuật khác trong trường

Không gian học tập của Thư viện trường Đại học Guelph dựa trên mô hình cộng tác với bộ phận Dịch vụ máy tính và Truyền thông, Văn phòng học tập mở, Phòng Công tác Sinh viên và Dịch vụ hỗ trợ giảng dạy. Ở Trung tâm Học tập Irving K. Barber của trường Đại học British Columbia, sinh viên được hưởng lợi từ sự hợp tác với các bộ phận trong trường như viết và nghiên cứu, các kỹ năng học tập, sáng tạo đa phương tiện, phụ đạo học phần, tư vấn và hỗ trợ việc giảng dạy và học tập. Môi trường chia sẻ công nghệ thông tin và truyền thông học tập kỹ thuật số (Digital Learning Collaboratory) của Đại học Purdue hợp tác với các khoa để nâng cao chương trình giảng dạy học phần của họ nhằm giúp sinh viên phát triển tư duy độc lập (Critical Thinking), kỹ năng thông tin, các kỹ năng nghiên cứu và kỹ thuật. Họ cung cấp sự hỗ trợ cho các học phần thông qua nhiều cách bao gồm hướng dẫn trực tiếp, giảng dạy theo đội hoặc cung cấp không gian và các nguồn tài nguyên.

Không gian thông tin ở Thư viện Leavey, Đại học Nam California kết hợp với Trung tâm hướng dẫn kỹ năng viết (Writting Center) trường Đại học để cung cấp cơ hội tiếp cận việc tư vấn các kỹ năng viết một vài giờ trong một ngày, 4 ngày một tuần trong suốt học kỳ. Thư viện Lied ở Đại học Nevada, Las Vegas cũng vận hành thử Trung tâm hướng dẫn kỹ năng viết như là một bộ phận vệ tinh trong không gian thông tin của họ được mở suốt các kỳ thi giữa kỳ và cuối kỳ. Sự phối hợp này giúp các không gian học tập có thể triển khai thêm một cách hiệu quả các dịch vụ khác như dạy kèm hay phụ đạo (tutor), hỗ trợ sinh viên tìm kiếm việc làm, đào tạo kỹ năng thông tin,...

Sự hợp tác giữa các dịch vụ khác nhau có lẽ là khía cạnh thách thức nhất của các không gian học tập. Sự hợp tác có thể dựa trên sự tích hợp hoàn toàn, cùng một chỗ (co-location), mô hình vệ tinh hoặc kết hợp của những loại này. Các nghiên cứu nhấn mạnh những khó khăn của việc kết hợp các văn hoá dịch vụ khác biệt và cảnh báo về một giai đoạn chuyển tiếp khó khăn. Thông thường những người tham gia viện dẫn những khác biệt trong cách báo cáo, văn hoá làm việc và việc thiếu hiểu biết về lĩnh vực của nhau như là những thách thức. Thêm vào đó, các cán bộ thư viện thường cảm thấy khó khăn để xem không gian học tập như là một tiện nghi chung, đặc biệt nếu nó là một phần thực thể của thư viện [4].

Vai trò của các cán bộ thư viện, cách bố trí nhân viên ở không gian học tập

Các tài liệu về không gian học tập thường đề cập đến khái niệm “Cán bộ thư viện hỗn hợp” (Blended Librarian). Theo Marwin Britto, khái niệm này mô tả một cán bộ thư viện thành thạo cả hai loại công cụ trực tuyến và in ấn, người được khen ngợi về những kỹ năng truyền thống của nghề thư viện cũng như những kiến thức và kỹ năng về kỹ thuật hướng dẫn và thông tin để hỗ trợ và nâng cao hiệu quả quá trình dạy và học của giảng viên và sinh viên [3]. Điều này đòi hỏi các thư viện chú trọng việc phát triển chuyên môn cho cán bộ thư viện một cách liên tục và theo dõi thường xuyên để đảm bảo các cán bộ thư viện thành thạo những năng lực cần thiết. Việc phát triển và duy trì những mối quan hệ hợp tác chiến lược với bộ phận IT, kỹ thuật hướng dẫn, trung tâm dạy và học là vô cùng cần thiết. Bên cạnh đó, cách thức hoạt động của cán bộ tham khảo cũng có những thay đổi với sự xuất hiện của một tên gọi mới: “Cán bộ thư viện lưu động” (Roving Librarian) cung cấp “Dịch vụ tham khảo không dây trên không” (Wireless Reference on the Fly). Đó là những cán bộ tham khảo được trang bị máy tính xách tay tiếp cận các sinh viên trong không gian học tập và hỗ trợ họ với một loạt các dịch vụ tham khảo. Những dịch vụ này có thể bao gồm hướng dẫn, hỗ trợ chiến lược tìm kiếm, nghiên cứu các cơ sở dữ liệu, đánh giá các nguồn tài nguyên và ngay cả tư vấn chuyên sâu cho từng người một. Nghiên cứu của hai tác giả Moore và Wells năm 2009 ở không gian học tập của trường Đại học Massachusetts-Amherst cho thấy sinh viên yêu thích sự hỗ trợ như vậy hơn. Khi được hỏi họ cảm thấy như thế nào về việc cán bộ thư viện tiến đến gần họ và đưa ra đề nghị giúp đỡ, có sinh viên đã trả lời rằng: “Hữu ích bởi vì nếu tôi cần sự giúp đỡ, có thể tôi không muốn rời đi và làm mất chỗ của mình, hoặc có thể tôi không biết hỏi ai”. Một sinh viên khác thì cho rằng: “Tôi trân trọng lời đề nghị giúp đỡ này, tôi nghĩ nó thật tuyệt, đặc biệt với những ai không muốn mất chỗ ngồi, để lại những thứ của mình không có ai trông coi, hoặc là những người quá nhút nhát để hỏi sự giúp đỡ” [3].

Ngoài ra, các sinh viên phụ tá là một phần thống nhất trong việc triển khai nhiều không gian thông tin hay không gian học tập. Trong nhiều trường hợp các sinh viên thực hiện chức năng như những người giúp đỡ lưu động theo một hệ thống thứ bậc nơi sinh viên cung cấp hỗ trợ ban đầu cho người dùng và sau đó chuyển các yêu cầu nằm ngoài phạm vi của họ đến các nhân viên chuyên môn [4]. Ở nhiều nơi, sinh viên chỉ cung cấp những hỗ trợ kỹ thuật và được tuyển chọn từ những ngành học có liên quan đến IT. Ở Thư viện Leavey, Đại học Nam California, sinh viên được mong đợi cung cấp những hỗ trợ tuyến đầu và nhận biết khi nào cần chuyển câu hỏi đến các nhân viên khác. Các cán bộ tham khảo chỉ có mặt một số giờ nhất định từ thứ hai đến thứ sáu trong khi sinh viên định hướng sự hỗ trợ vào mọi lúc thư viện mở cửa. Còn ở không gian học tập của Đại học Guelph, sinh viên được sử dụng cho nhiều loại hình hỗ trợ học tập khác nhau như học tập, viết lách và nghiên cứu. Các sinh viên phụ tá này được gọi là “Những người hỗ trợ đồng trang lứa” (Peer Helpers) và được tuyển chọn từ nhiều chuyên ngành khác nhau. Ở Đại học Guelph, việc hỗ trợ đồng trang lứa được ghi nhận chính thức như là một cơ hội học tập kinh nghiệm ở trường đại học và người tham gia sẽ được nhận một ghi chú học thuật trên bảng điểm của họ, ngoài ra không được các dạng chứng chỉ học thuật khác. Các sinh viên phụ tá này được tập huấn theo nhiều cấp độ khác nhau. Ưu điểm của việc sử dụng sinh viên làm phụ tá là làm cho môi trường trở nên “chào đón và không đáng sợ” khi mà nhiều sinh viên cảm thấy thoải mái hơn trong việc tìm kiếm sự hỗ trợ từ một người đồng trang lứa.

Những vấn đề về quản lý

Nhiều ý kiến cho rằng nếu không có sự hỗ trợ trong các trường đại học và sự cộng tác học thuật đối với những thay đổi trong không gian học tập để hướng tới một nền giáo dục định hướng học tập và lấy người học làm trung tâm, việc triển khai không gian học tập sẽ có những tác động không đáng kể đối với việc học của sinh viên [4]. Vì thế, một trong những trách nhiệm quan trọng nhất của người quản lý thư viện là xây dựng mối quan hệ với những nhà quản lý khác trong trường đại học. Một người quản lý thành thạo cần phải tìm cách nhắm đến các đối tượng khán giả là những cổ đông khác nhau bằng cách dùng các điểm chú trọng đến những nhu cầu và những vấn đề riêng biệt của họ. Hãy dành thời gian để tìm hiểu các điểm mạnh và nhiệm vụ của trường, sau đó sáng tạo và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ những điểm mạnh và nhiệm vụ đó. Theo các tác giả Weiner, Doan và Kirkwood thì các nhà quản lý có thể hỗ trợ các chuyến tham quan cho các nhóm đối tác liên quan đến các không gian học tập khác hoặc mời diễn giả đến trường nói chuyện về chủ đề này. Không gian học tập sẽ thành công hơn nếu việc lập kế hoạch, đánh giá và quản lý thường xuyên bao gồm tất cả các nhóm đối tác liên quan [7].

Mỗi không gian học tập được lập kế hoạch tốt sẽ trở nên duy nhất bởi vì yếu tố then chốt của quá trình lập kế hoạch là phải hiểu được viễn cảnh của trường đại học, sở thích và phong cách học của sinh viên và vai trò của thư viện trường đại học. Sự kết hợp của những yếu tố đó sẽ đưa đến kết quả là một không gian thông tin hỗ trợ những ưu tiên và đặc điểm riêng của học viện đó theo một cách thức được chuyên biệt hoá [7].

Ngoài ra, người quản lý thư viện cần nói với nhân viên thư viện không gian học tập là gì, nó sẽ tác động như thế nào đến thư viện và tại sao việc phân phối nguồn quỹ và nhân viên  cho không gian học tập lại quan trọng. Cung cấp cho nhân viên những chương trình phát triển và tổ chức những buổi thảo luận mở là cách thức để nhân viên có thể tìm hiểu về những lợi ích của không gian học tập. Các nhà quản lý thư viện cần đảm bảo rằng cơ cấu tổ chức của thư viện phản ánh sự coi trọng việc học của sinh viên bằng cách phân công những nhân viên nhiệt tình, giàu năng lực tham gia vào những vai trò này.

Để tránh những hạn chế có thể xảy ra khiến không gian học tập trông có vẻ quá chú trọng vào những đặc điểm hữu hình như công nghệ, trang bị đồ đạc, quán cà phê hơn là việc học của sinh viên và kỹ năng thông tin, người quản lý nên nhấn mạnh rằng khái niệm, vai trò và chức năng của không gian học tập sẽ thường xuyên được xem xét, đánh giá. Những điều chỉnh sẽ được thực hiện dựa trên những đánh giá này và có thể cần thêm những nguồn lực bổ sung. Vì vậy, ngay từ giai đoạn lập kế hoạch ban đầu, nhà quản lý cần phải trình bày chặt chẽ tầm quan trọng của việc duy trì một không gian học tập hiệu quả lâu dài. Điều này đòi hỏi một sự cam kết dài hạn của các nguồn quỹ tài trợ để có thể nâng cấp công nghệ và thường xuyên sáng tạo một không gian cuốn hút đối với sự thành công trong kinh nghiệm học tập của sinh viên. Nếu việc tích hợp những chương trình kỹ năng thông tin vào không gian học tập không được truyền đạt rõ ràng, nơi đây có thể sẽ bị xem như là một phòng máy tính đơn thuần nơi sinh viên chỉ đến khi họ không có thiết bị riêng để hoàn thành công việc mà thôi.

Kết luận

Việc xây dựng các mô hình không gian học tập ở các thư viện đại học là một xu hướng tất yếu nhằm đáp ứng nhu cầu người dùng và giúp các thư viện tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các trường đại học hoàn thành sứ mệnh của mình. Trong bối cảnh môi trường kinh tế, văn hoá, xã hội và công nghệ đang thay đổi không ngừng, các thư viện cũng phải chuyển mình để có thể tiếp tục cạnh tranh và phát triển bền vững. Mặc dù kinh phí sẽ là vấn đề lớn nhất đối với đa số các thư viện đại học ở Việt Nam, chúng ta có thể tìm kiếm kinh phí từ các nguồn tài trợ, vận động sự ủng hộ và phân bổ tài chính lớn hơn từ cơ quan chủ quản hay thực hiện thay đổi dần từng bước theo điều kiện cụ thể của từng thư viện. Dù khái niệm không gian học tập không còn là một khái niệm mới ở các thư viện tiên tiến trên thế giới, song nó vẫn đang trong quá trình được cải tiến liên tục. Các thư viện ở Việt Nam có điều kiện học hỏi và rút kinh nghiệm từ các thư viện ở các nước khác để tối ưu hoá mô hình của mình. Với phương châm lấy người dùng làm trung tâm, phục vụ tối đa nhu cầu giảng dạy và học tập tại các trường đại học, không gian học tập thực sự cần có ở các thư viện học thuật trên cả nước.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bùi Thị Thanh Diệu. Suy nghĩ về cách thức tổ chức các loại hình dịch vụ thư viện trong các trường cao đẳng, đại học // Tạp chí Thư viện Việt Nam. - 2013. - Số 2(40). - Tr. 32-37.

2. Bennett, S. The information or the learning commons: Which will we have? http://libraryspace- planning.com/assets/resource/Information-or- Learning Commons.pdf. Truy cập ngày 16/03/2013.

3. Britto, M. Planning and Implementation Considerations for the Information Commons in Academic Libraries // Library Student Journal. - 2011. - December. http://librarystudentjournal.org/index.php/lsj/article/view/255/317. Truy cập ngày 16/03/2013.

4. Keating, S. & Gabb, R.. Putting learning into the learning commons: a literature review. - Victoria University Institutional Repository, 2005. - P. 1-28. http://vuir.vu.edu.au/94/1/Learning%20Commons%20report.pdf. Truy cập ngày 16/03/2013.

5. McCabe, J.. Learning Commons Service Model. Knowledge Edgen – an online newsletter by and about James Madison University Libraries. Volume 8 Issue 2 Fall 2007 (2). http://www.lib.jmu.edu/edge/fall2007(2)/article2.aspx. Truy cập ngày 20/03/2013.

6. McMullen, S. hình không gian học tập chung hiện nay / Vũ, N. A., Trần, T. M. và Nguyễn, T. P. H. Đ. dịch // Bản tin Thư viện – Công nghệ thông tin của Thư viện Đại học Khoa học Tự nhiên TP. Hồ Chí Minh, 2011. - Tháng 11. http://www.glib.hcmus.edu.vn/news_vi/2011-11.jsp. Truy cập ngày 24/04/2013.

7. Weiner, Sharon, Doan, Tomalee, Kirkwood, Hal. The Learning Commons as a Locus for Information Literacy // Libraries Research Publications, 2010. - p.131. http://docs.lib.purdue.edu/lib_research/131/. Truy cập ngày 18/03/2013.

8. Wolfe, J. A., Naylor, T., & Drueke, J. The role of the academic reference librarian in the learn- ing commons // Reference & User Services Quarterly.  -  2010.  -  No.  50(2).  -  p.108-113. http://search.proquest.com/docview/818745172?ac countid=47774.

_____________________

ThS. Nguyễn Thị Bích Ngọc

Bộ môn Quản trị Thông tin - Thư viện, Khoa KHXH&NV, Đại học Cần Thơ 

Nguồn: Tạp chí Thư viện Việt Nam. - 2014. - Số 1. - Tr. 34-39.

 

Chuẩn hoá hoạt động thông tin - thư viện bệnh viện từ kết quả khảo sát thư viện bệnh viện tại thành phố Hồ Chí Minh

E-mail Print

Đặt vấn đề

Xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn cho hoạt động thông tin - thư viện trong hệ thống thư viện Y học nói chung, thư viện bệnh viện (TVBV) nói riêng là một trong những điều kiện quan trọng giúp cho các thư viện (TV) có được hướng đi thống nhất ngay từ khi thành lập. Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới đã xây dựng và thực hiện hiệu quả những bộ tiêu chuẩn, bộ hướng dẫn dành cho TV Y học, trong đó bao gồm TVBV như các tiêu chuẩn của Hoa Kỳ, Canada, Đức, Úc,…

Ở Việt Nam, việc áp dụng các tiêu chuẩn dành cho TV trường học, TV công cộng đã có được những thành quả nhất định. Trong khi đó, đến nay vẫn chưa có bất kỳ một bộ tiêu chuẩn hay hướng dẫn cụ thể nào dành cho hoạt động của TV Y học cũng như TVBV.

Vài nét về hoạt động nghiệp vụ của thư viện bệnh viện thành phố Hồ Chí Minh

Từ kết quả cuộc khảo sát tại bốn TV bệnh viện đa khoa và chuyên khoa thành phố Hồ Chí Minh (Tp. HCM), bao gồm TVBV Chợ Rẫy, TVBV Thống Nhất, TVBV Nhi Đồng 2 và TVBV Mắt cho thấy, về cơ bản, cả bốn TVBV đều thực hiện tương đối đầy đủ và vận dụng tương đối linh hoạt các quy trình nghiệp vụ TV như đăng ký tổng quát và đăng ký cá biệt, đóng dấu tài liệu, dán ký hiệu xếp giá, biên mục mô tả, phân loại tài liệu, tổ chức kho, tổ chức bộ máy tra cứu, thanh lọc, kiểm kê tài liệu, phục vụ nhu cầu người dùng tin. Tuy nhiên, việc thực hiện các hoạt động xử lý tài liệu còn mang tính tự phát và thiếu sự đồng nhất giữa các TVBV trên địa bàn Tp. HCM.

Các TVBV đều sử dụng quy tắc mô tả thư mục theo tiêu chuẩn quốc tế ISBD trong công tác mô tả hình thức tài liệu và sử dụng bảng phân loại của Thư viện Y học Quốc gia Hoa Kỳ để phân loại tài liệu. Đây là điểm chung nổi bật nhất đối với hoạt động xử lý tài liệu TV. Bảng phân loại bao gồm lĩnh vực Y học và các ngành khoa học liên quan, sử dụng 2 ký hiệu chữ cái là Q và W, gồm các mục QS-QZ và W-WZ, gồm cả chữ cái và chữ số (ví dụ, WE - Hệ cơ xương; WF - Hệ hô hấp). Riêng TVBV Chợ Rẫy còn sử dụng cả khung phân loại BBK để phân loại tài liệu là sách thuộc các lĩnh vực khác như luật, tài liệu tra cứu (từ điển, bách khoa toàn thư).

Về công tác định tiêu đề chủ đề, chỉ có TVBV Thống Nhất và Chợ Rẫy định tiêu đề chủ đề tài liệu với Bảng đề mục chủ đề Y học (Medical Subject Headings) viết tắt là MeSH của Thư viện Y học Quốc gia Hoa Kỳ, trong khi TVBV Nhi Đồng 2 và TVBV Mắt không định chủ đề cho tài liệu. Bảng đề mục chủ đề Y học MeSH do các nhà biên mục và thư mục học tại Thư viện Y học Quốc gia Hoa Kỳ biên soạn, là công cụ chủ yếu để các nhà biên mục và thư mục học sử dụng trong phân tích chủ đề. Đồng thời, MeSH còn giúp người tìm tin thu thập và tìm kiếm thông tin một cách dễ dàng và đầy đủ trong Index Medicus, các bài báo trong PubMed hoặc cơ sở dữ liệu của Thư viện Y học Quốc gia Hoa Kỳ. Về công tác định từ khoá, các TV đều sử dụng ngôn ngữ từ khoá tự do để định từ khoá.

Như vậy, riêng hoạt động nghiệp vụ của các TVBV cũng còn thiếu sự thống nhất giữa các TV trong cùng hệ thống. Chính vì vậy, chuẩn hoá hoạt động nghiệp vụ nói riêng cũng như toàn bộ hoạt động TVBV nói chung là một yêu cầu thực sự cần thiết, nhằm hướng đến khả năng phát triển lâu dài và mở rộng mối quan hệ, hợp tác giữa các TVBV tại Tp. Hồ Chí Minh và trong phạm vi cả nước.

Một số giải pháp hướng đến chuẩn hoá hoạt động thông tin thư viện bệnh viện Việt Nam

* Áp dụng các chuẩn nghiệp vụ trong xử lý tài liệu ở các thư viện bệnh viện

Áp dụng chuẩn nghiệp vụ trong xử lý tài liệu ở các thư viện Y học, TVBV là một trong những điều kiện quan trọng để nâng cao hiệu quả hoạt động của các TVBV và là cơ sở để phối hợp hoạt động giữa các TVBV trên địa bàn Tp. HCM và trong hệ thống thư viện Y học của cả nước.

Để xử lý tài liệu, các TVBV có thể áp dụng Khổ mẫu biên mục đọc máy MARC 21, Quy tắc biên mục Anh - Mỹ AACR2, bảng phân loại Thư viện Y học Quốc gia Hoa Kỳ NLM (Classification of National Library of Medicine), Bảng đề mục chủ đề Y học MeSH. Đây là các chuẩn quốc tế đã được áp dụng trong các TV Y học và TVBV ở nhiều nước trên thế giới. Việc áp dụng các chuẩn này không chỉ giúp các TVBV nâng cao hiệu quả công tác xử lý tài liệu mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc chia sẻ nguồn lực thông tin và phối hợp hoạt động giữa các TVBV trong phạm vi quốc gia và quốc tế. Việc áp dụng các chuẩn nghiệp vụ quốc tế cần được thực hiện một cách đồng bộ và thống nhất.

Khổ mẫu MARC 21 là khổ mẫu được sử dụng rộng rãi trong cộng đồng thông tin - thư viện trên thế giới và Việt Nam. Việc áp dụng khổ mẫu MARC 21 vào hoạt động nghiệp vụ TVBV sẽ góp phần hỗ trợ các TV có thể trao đổi, chia sẻ dữ liệu biên mục với các TV khác trên thế giới, đặc biệt là các TV Y học của Hoa Kỳ.

Quy tắc biên mục Anh – Mỹ AACR2 tạo điều kiện cho TVBV dễ dàng tiếp cận, trao đổi thông tin thư mục với cộng đồng thông tin - thư viện Y học quốc tế và trong nước. Việc áp dụng thống nhất quy tắc này vào hoạt động của TV Y học, TVBV trong cả nước sẽ tạo tiền đề để xây dựng mục lục liên hợp quốc gia về y sinh học nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu tìm tin của người dùng tin.

Bảng phân loại của Thư viện Y học Quốc gia Hoa Kỳ NLM là một công cụ hỗ trợ đắc lực công tác phân loại tài liệu trong lĩnh vực Y học và các ngành khoa học liên quan. Việc áp dụng bảng phân loại của Thư viện Y học Quốc gia Hoa Kỳ sẽ tạo điều kiện cho các TV dễ dàng khai thác, trao đổi thông tin thư mục với các TV cùng hệ thống trong và ngoài nước.

Bảng đề mục chủ đề Y học của Thư viện Y học Quốc gia Hoa Kỳ MeSH giúp người tìm tin thu thập và tìm kiếm thông tin một cách dễ dàng và đầy đủ trong Index Medicus, các bài báo trong PubMed hoặc cơ sở dữ liệu của Thư viện Y học Quốc gia Hoa Kỳ.

Như vậy, AACR2, MARC 21, NLM và MeSH là những chuẩn quốc tế tương đối phù hợp với điều kiện thực tế và khả năng áp dụng tại các TVBV. Để có thể áp dụng các chuẩn nghiệp vụ này trong hoạt động, các TVBV cần:

- Đề xuất với Bộ Y tế và các Bộ, ngành liên quan ban hành văn bản chỉ đạo về việc quyết định áp dụng các chuẩn nghiệp vụ trong tất cả hệ thống TV Y học, bao gồm TVBV trong phạm vi cả nước.

- Tổ chức các lớp tập huấn hướng dẫn kỹ năng thực hành các chuẩn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ TV tại các TVBV.

- Tổ chức trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm áp dụng các chuẩn giữa các cán bộ TV của TVBV. Cụ thể, TVBV Thống Nhất và BV Chợ Rẫy là những nơi đã áp dụng bảng phân loại NLM và Bảng đề mục chủ đề MeSH có thể chia sẻ kinh nghiệm cho các TVBV khác.

* Hướng đến áp dụng bộ tiêu chuẩn và hướng dẫn dành cho thư viện bệnh viện Việt Nam

Việc xây dựng tiêu chuẩn dành cho TVBV thực sự cần thiết trong giai đoạn hiện nay bởi lẽ tiêu chuẩn giữ một số vai trò nhất định trong hoạt động TV:

Thứ nhất, tiêu chuẩn định hướng hoạt động TVBV. Cụ thể, các tiêu chuẩn sẽ góp phần giúp TV hoạt động theo một khuôn khổ nhất định. Thực tế hiện nay, các TV phát triển không đồng đều do những yếu tố chi phối khác nhau như lịch sử hình thành, điều kiện tài chính, quan điểm của người quản lý và rất nhiều những yếu tố khác, tạo nên những đặc điểm riêng của từng TV. Từ đó, dẫn đến tình trạng là mỗi TV hoạt động theo hướng khác nhau, không thống nhất.

Thứ hai, tiêu chuẩn công cụ để đánh giá hiệu quả hoạt động của TVBV. TVBV là một bộ phận của phòng ban cụ thể như phòng Kế hoạch Tổng hợp, Trung tâm đào tạo và chỉ đạo tuyến hoặc là một bộ phận riêng biệt trực thuộc bệnh viện. Vì vậy, sự phát triển của TV cũng ảnh hưởng đến sự phát triển chung của bệnh viện. Thông qua việc áp dụng những tiêu chuẩn cụ thể, các TV sẽ tự đánh giá được hiệu quả hoạt động, từ đó có các giải pháp để cải thiện cho phù hợp với điều kiện thực tế.

Thứ ba, tiêu chuẩn TVBV một phần của tiêu chuẩn đánh giá chất lượng tổng thể bệnh viện. Đánh giá chất lượng tổng thể bệnh viện dựa trên nhiều yếu tố khác nhau, trong đó TVBV cần được xem là một trong những điều kiện để đánh giá chất lượng tổng thể mỗi BV.

Trên thực tế, xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn dành riêng cho hoạt động TVBV Việt Nam thực sự là một quá trình lâu dài và chưa thể thực hiện với điều kiện thực tế hiện nay. Do vậy, trước mắt việc áp dụng các tiêu chuẩn hoặc hướng dẫn của các tổ chức có uy tín và đã được thực hiện ở nhiều quốc gia sẽ là một trong những biện pháp thiết thực và tiết kiệm nhất. Cụ thể, các TVBV có thể áp dụng bản hướng dẫn của IFLA "Những hướng dẫn dành cho thư viện phục vụ bệnh nhân, người cao tuổi và người khuyết tật trong các cơ sở chăm sóc dài hạn” (Guidelines For Libraries Serving Hospital Patients And The Elderly And Disables In Long-Term Care Facilities).

Hướng dẫn của IFLA nêu rõ nhiệm vụ của TVBV như sau: TV dành cho bệnh nhân thực hiện nhiệm vụ phù hợp với nhiệm vụ của cơ quan chủ quản, nhằm cung cấp cho bệnh nhân vốn tài liệu TV và những dịch vụ khi có nhu cầu.

Về mục tiêu của TVBV, IFLA chú trọng những mục tiêu như:

- Cải thiện sức khoẻ và phục hồi tình trạng cho bệnh nhân thông qua việc thu thập, tổ chức, duy trì và cung cấp tài liệu và dịch vụ TV, tuỳ thuộc theo nhu cầu của mỗi bệnh nhân, cung cấp phương tiện giải trí, điều trị, văn hoá, giáo dục và đào tạo khi cần thiết. Khi có nhu cầu, cung cấp thông tin về sức khoẻ, các loại bệnh cụ thể, các chứng rối loạn hay những vấn đề liên quan đến sức khoẻ gồm có nguyên nhân, chẩn đoán, tiên lượng và điều trị.

Phối hợp với các dịch vụ chăm sóc bệnh nhân ở các tổ chức khác. Nhận thức rõ vốn tài liệu TV là một trong các phương tiện bệnh nhân có thể cân bằng trong môi trường bệnh viện và hiểu biết sâu sắc hơn rằng việc đọc sách thường là một trong số rất ít các hoạt động giải trí và có lẽ là hầu như bền vững nhất, có sẵn cho mọi người trong tổ chức.

- Khuyến khích nhận thức việc đồng nhất với khái niệm về chăm sóc bệnh nhân toàn diện, TV và dịch vụ TV nên là một bộ phận nền tảng của bất kỳ một cơ sở y tế dài hạn hay ngắn hạn.

Cũng trong hướng dẫn này, IFLA đã nêu rõ nội dung chính của hướng dẫn liên quan đến các nguồn lực TV, cụ thể:

Người dùng tin: Gồm có bệnh nhân, nhân viên bệnh viện, tuy nhiên tập trung chủ yếu là bệnh nhân điều trị nội trú và ngoại trú, ngắn hạn và dài hạn, những bệnh nhân sử dụng dịch vụ điều trị tại nhà và dịch vụ chăm sóc y tế trong cộng đồng. IFLA cũng đã xác định những đặc điểm của người dùng tin và việc lập kế hoạch cung cấp dịch vụ chủ yếu cho người dùng tin của TV.

Tổ chức: TV cung cấp tài liệu và dịch vụ theo những cách thức khác nhau cho bệnh nhân, cách chung nhất là TVBV hoặc những dịch vụ cung cấp bên ngoài. Cụ thể, đối với việc thành lập TV, TV được hỗ trợ toàn phần bởi cơ quan chủ quản, TV được hỗ trợ một phần từ cơ quan chủ quản và một phần từ các tổ chức bên ngoài, TV cân nhắc thành lập một chi nhánh TV công cộng địa phương hoặc thành lập và duy trì bởi một nhóm tình nguyện nào đó. Liên quan đến dịch vụ TV, các bệnh viện là cơ quan chủ quản nên phối hợp với các tổ chức bên ngoài để cùng hỗ trợ cho dịch vụ TV như cung cấp nguồn nhân lực, vốn tài liệu, chi trả những tài liệu có giá thành cao,… Cả hai cùng đồng thuận, rõ ràng trong việc thực hiện mục tiêu, cam kết, cũng như bố trí thành viên của tổ chức chịu trách nhiệm đối với việc cung cấp dịch vụ TV.

sở vật chất: Gồm có vị trí, môi trường, không gian, ánh sáng, nội thất, kệ sách và trang thiết bị. Cụ thể, TVBV nên được bố trí ở khu trung tâm của bệnh viện, nơi mà người sử dụng có thể dễ dàng đến từ các phòng bệnh, cũng như nằm trên đường đi của các bệnh nhân đến nơi khám, TV có bảng hiệu để nhân viên và khách dễ nhận thấy. Ngoài ra, hướng dẫn còn bao gồm các tiêu chí liên quan đến không gian TV như sức chứa, phân bố khu vực: đọc sách, học tập, nghe nhìn, máy tính, lưu hành, nhà vệ sinh cho người khuyết tật, khu vực tương tác xã hội, khu vực dành cho trẻ em,…

- Nhân viên thư viện: Hướng dẫn này quy định về quy mô và loại hình bệnh viện để xác định số lượng nhân viên TV phù hợp, trình độ, các yêu cầu bắt buộc đối với cán bộ quản lý TV, đội ngũ tình nguyện viên, những vấn đề liên quan đến mô tả vị trí công việc, giáo dục và đào tạo tiếp tục.

- Ngân sách: TVBV cần được nhận hỗ trợ kinh phí hoạt động đầy đủ như chế độ lương, ngân sách bổ sung vốn tài liệu, chi phí vận hành kỹ thuật, những chương trình và dịch vụ như mượn liên TV, chi phí hoạt động mạng lưới.

- Bộ sưu tập: Gồm có tài liệu đọc giải trí, tài liệu về thông tin Y học, tài liệu giải trí dạng in và điện tử như băng, CD, DVD, tạp chí và báo nói, phim ảnh, đĩa nhạc, radio di động, những trò chơi ô chữ, đánh bài, tranh nghệ thuật, bản khắc gỗ thủ công,… dành cho những đối tượng người sử dụng khác nhau như trẻ em, người khuyết tật.

- Chương trình và dịch vụ: Dịch vụ xe sách phục vụ theo lịch, những khu vực điều trị đặc biệt, phòng chờ, phòng khám lâm sàng, chương trình mượn liên TV, dịch vụ tham khảo, ban tư vấn người dùng tin, thư mục trích dẫn chuyên đề, chương trình giáo dục và tái hoà nhập, những hình thức giải trí thích hợp, liệu pháp âm nhạc, những buổi gặp gỡ và thảo luận là những nội dung chính trong bản hướng dẫn của IFLA.

Ngoài ra, tự động hoá, hoạt động quảng bá, nguồn ngoại lực như Thư viện Quốc gia, TV công cộng, Hiệp hội Thư viện chuyên ngành, Hiệp hội Khoa học Sức khoẻ và Y học liên quan, mục lục các nhà xuất bản, diễn đàn trên Internet cũng được hướng dẫn cụ thể dành cho TV phục vụ bệnh nhân, người cao tuổi và người khuyết tật trong các cơ sở y tế dài hạn.

* Ban hành văn bản pháp quy về hoạt động thư viện bệnh viện

Bên cạnh hai giải pháp nêu trên, xét về lâu dài, các TVBV cần được hoạt động trong giới hạn thống nhất và có định hướng bởi hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Hiện nay, hệ thống TV Y học, đặc biệt là hệ thống TVBV vẫn chưa có văn bản pháp quy quy định, hướng dẫn tổ chức các hoạt động TV Y học như văn bản quy định áp dụng các chuẩn xử lý tài liệu trong hệ thống TV Y học, văn bản về thực hiện chế độ phụ cấp độc hại, nguy hiểm cho cán bộ, nhân viên thư viện, hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Thư viện và các văn bản hướng dẫn kèm theo. Điều này dẫn đến một số hạn chế trong quá trình tổ chức và thực hiện hoạt động TVBV. Đặc biệt, các TVBV thiếu sự định hướng trong các chiến lược phát triển hoạt động TT-TV.

Xây dựng và ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đối với hoạt động TVBV là một yêu cầu cấp thiết hiện nay. Thứ nhất, việc xây dựng và ban hành các văn bản pháp quy sẽ định hướng, hướng dẫn, thúc đẩy, khuyến khích và điều chỉnh hoạt động cho các TVBV. Thứ hai, trên cơ sở các văn bản pháp quy, các TVBV có được căn cứ pháp lý để thực hiện được việc đảm bảo quyền lợi, chế độ cho CBTV trong bệnh viện. Thứ ba, các văn bản pháp quy giúp cho các TVBV phát triển một cách có hệ thống và đồng bộ, đặc biệt trong quá trình áp dụng các chuẩn xử lý nghiệp vụ, giảm tình trạng mỗi TV có một cách làm riêng lẻ và biệt lập, thiếu sự nhất quán trong mạng lưới TV Y học nói chung và TVBV nói riêng.

TVBV thuộc hệ thống TV chuyên ngành Y học thuộc Bộ Y tế, Sở Y tế và các Bộ ngành khác quản lý. Hoạt động TT-TV chưa thực sự nhận được sự quan tâm đúng mức nên việc xây dựng hệ thống văn bản pháp quy cần có sự phối hợp và hỗ trợ từ các cơ quan, tổ chức khác có liên quan như Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Thư viện Quốc gia Việt Nam, Viện Công nghệ Thông tin - Thư viện Y học Trung ương trong việc hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Thư viện và các văn bản hướng dẫn kèm theo. Giải pháp nêu trên có tính chiến lược lâu dài, đòi hỏi sự quan tâm từ nhiều phía cơ quan, ban ngành khác nhau. Do đó, trước mắt bản thân mỗi TVBV cần nhận thức được yêu cầu chuẩn hoá hoạt động của TV nơi mình công tác, đặc biệt là bắt đầu từ chuẩn hoá hoạt động nghiệp vụ và tiến hành áp dụng những hướng dẫn dành cho TVBV.

Tóm lại, TVBV Tp. HCM hoạt động không dựa trên bất kỳ một tiêu chuẩn hay hướng dẫn nào được ban hành bởi các cơ quan có thẩm quyền, mà hoạt động theo cách thức riêng mà họ có. Điều này dẫn đến thực trạng chung mỗi TV là một bộ máy hoạt động riêng lẻ và tách biệt, thiếu sự đồng nhất về nhiều mặt, đặc biệt là về nghiệp vụ. Chính vì vậy, việc áp dụng tiêu chuẩn trong bản hướng dẫn của IFLA và những giải pháp đã nêu cần được xem xét như giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế tại các TVBV ở nước ta hiện nay. Các TVBV có thể áp dụng các nội dung hướng dẫn này một cách linh hoạt, tuỳ theo điều kiện hoạt động cụ thể của từng TV nhằm đảm bảo được tính thống nhất và hiệu quả nhất định.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Australia Library and Information Association. Guidelines for Australian Health Libraries. http://www.alia.org.au/policies/health.libraries.html.

2. Hospital Libraries Section. Standards for Hospital Libraries 2007. http://library.umassmed.edu/hslnhvt/HospitalLibrary Standards2007.pdf.

3.  Nancy Mary Panella, Ka-Jo Carlsen, Peter Craddock. Guidelines for libraries serving hospital patients and the elderly and disables in long term care facilities. - The Hague : IFLA Headquarters, 2000. http://archive.ifla.org/VII/s9/nd1/iflapr- 61e.pdf.

4. Peter Ahrens Cologne, Frank Bauman, Diana Klein. Standards for hospital libraries in Germany. - Germany : German Medical Libraries Association, 2004. http://www.agmb.de/mbi/libraries_standards.pdf.

5. The Canadian Health Libraries Association. Standards for Library and Information Services in Canadian Healthcare Facilities 2006. http://www.chlaabsc.ca/documents/ Standards_2006.pdf.

___________________

ThS. Bùi Hà Phương

Khoa Thư viện - Thông tin học, trường ĐH KHXH&NV Tp. HCM 

Nguồn: Tạp chí Thư viện Việt Nam. - 2014. - Số 1. - Tr. 29-33.

 

Đầu tư vào thư viện đại học và các tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư

E-mail Print

Ở mọi quốc gia, đầu tư cho thư viện đại học luôn là một mục tiêu quan trọng trong quá trình đầu tư cho giáo dục đại học vì thư viện góp phần quan trọng trong việc tạo nên thương hiệu của mỗi trường, ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng đào tạo, chất lượng sản phẩm đầu ra.

Tại Hoa Kỳ vào năm 1998, Trung tâm Thống kê Giáo dục Quốc gia Hoa Kỳ (National Center for Education Statistics) đã thực hiện cuộc khảo sát về kinh phí hoạt động của 3.658 thư viện đại học trên toàn lãnh thổ Hoa Kỳ. Kết quả khảo sát cho thấy các trường đã chi khoảng 4,6 tỷ USD cho hoạt động thư viện. Con số này đến năm 2010 đã là hơn 6,8 tỷ USD (6,839,225,158 USD), trong đó mức chi cho Thư viện Đại học Harvard cao nhất với tổng kinh phí khoảng 133 triệu USD [4, 6].

Tại Ấn Độ từ năm 1997 đến năm 2006, Uỷ ban Tài trợ Đại học (The University Grants Commission – UGC, 1988) đã thiết lập Mạng lưới trung tâm Thông tin và Thư viện (Information and Library network center – INFLIBNET) nhằm mục đích hiện đại hoá thư viện đại học. Với kinh phí hơn 6,5 triệu rupi để trang bị máy tính, modem, điện thoại, phần mềm và xây dựng một CSDL biên mục chung cho toàn bộ thư viện đại học Ấn Độ. Ngân sách 1,72 triệu rupi được cấp để duy trì hệ thống trong vòng 5 năm và chuyển đổi từ biên mục thủ công sang biên mục bằng máy cho 142 thư viện trường đại học. Hiện tại, INFLIBNET đã có CSDL biên mục của 155 thư viện đại học [5].

alt

Ngân sách cho thư viện đại học Ấn Độ từ 1997-2006

 

Các dự án xây dựng thư viện điện tử, thư viện số tại các trường đại học đều được đầu tư kinh phí rất lớn. Ví dụ, dự án “Digital Library Initiative

-  DLI" (Sáng kiến thư viện số) giai đoạn 1994 – 2004 tại Hoa Kỳ, “Electronic Library Programme - eLib” (Chương trình Thư viện Điện tử) giai đoạn 1995 – 2000 tại Anh, dự án Thư viện số quốc tế NSF/JISC giai đoạn 1999 - 2001 và nhiều dự án khác như Project Gutenberg, Google Book Search, Internet Archive, Cornell University, The Library of Congress, The European Digital Library, World Digital Library, Greenstone Digital Library- University of Waikato, Carnegie Mellon University's Million  Book Project,… [3].

Ở Việt Nam, điều 45 Điều lệ trường đại học ban hành theo Quyết định số 08/2012/QĐ-TTg ngày 22/09/2012 của Thủ tướng Chính phủ quy định “Trường đại học phải có thư viện và các trung tâm thông tin tư liệu chuyên ngành phục vụ hoạt động đào tạo, khoa học và công nghệ. Thư viện và các trung tâm thông tin tư liệu có trách nhiệm quản lý, bổ sung và cung cấp thông tin, tư liệu khoa học và công nghệ ở trong nước và ngoài nước thuộc các lĩnh vực của trường, thu thập và bảo quản các sách, tạp chí, băng, đĩa, các tài liệu lưu trữ, các luận văn, luận án đã bảo vệ tại trường, các ấn phẩm của trường. Thư viện và các trung tâm thông tin tư liệu chuyên ngành hoạt động theo quy chế do Hiệu trưởng ban hành”.

Trong quyết định số 10/2007/QĐ-BVHTT ngày 04/5/2007 của Bộ Văn hoá - Thông tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch) về Phê duyệt quy hoạch phát triển ngành Thư viện Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, mục tiêu phát triển chủ yếu cho thư viện đại học được xác định là:

-  Nâng cấp thư viện các trường đại học: Xây dựng mới, tu bổ lại trụ sở thư viện, tạo cho các thư viện hiện đại về cơ sở vật chất và trang thiết bị, phong phú về tài liệu.

Tăng cường công tác bổ sung tài liệu ngoại văn. Có sự phối kết hợp trong công tác bổ sung tài liệu giữa các trường đại học với nhau, cũng như đối với các thư viện khoa học lớn trong nước, tránh bổ sung trùng lặp, tiết kiệm ngoại tệ cho nhà nước. Thực hiện việc chia sẻ nguồn lực thông tin bằng các hình thức trao đổi tài liệu, cho mượn liên thư viện, phối hợp bổ sung...

- Đảm bảo trao đổi, hợp tác thường xuyên giữa thư viện các trường đại học trong nước với thư viện các trường đại học nước ngoài.

- Bồi dưỡng, đào tạo, đào tạo lại cán bộ thư viện đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ, đặc biệt về công nghệ thông tin, kiến thức về marketing, các dịch vụ thông tin - thư viện và ngoại ngữ.

- Phát triển cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, lấy đó làm đòn bẩy quan trọng nhất trong quá trình hiện đại hoá thư viện.

- Dựa trên các chuẩn kỹ thuật nghiệp vụ thư viện sử dụng hệ thống máy tính đã có, tiến hành quá trình tự động hoá thư viện, nâng cao chất lượng các dịch vụ truyền thống. Xây dựng một cơ sở dữ liệu tích hợp phục vụ cho mọi hoạt động của thư viện, dựa trên các hệ quản trị cơ sở dữ liệu hiện đại, tiêu chuẩn, dễ phối hợp với các công nghệ khác và dễ mở rộng, nâng cấp.

- Sử dụng các thành tựu mới nhất của ngành công nghệ thông tin, nhất là các công nghệ Internet, nâng cao chất lượng của vốn tài liệu và phát triển các dịch vụ thông tin - thư viện hiện đại, phục vụ cho nhiều đối tượng bạn đọc với các phương tiện thông tin khác nhau.

- Xây dựng một hệ thống thư viện đại học mạnh, phát triển theo hướng hiện đại thư viện điện tử, thư viện số. Có khả năng đáp ứng các nhu cầu thông tin của người sử dụng một cách dễ dàng, nhanh chóng.

- Số hoá các giáo trình của các môn học cơ bản bậc đại học và trên đại học của nước ta để cung cấp trên mạng.

Trong báo cáo số 760/BC-BGDĐT ngày 29/10/2009 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về sự phát triển của hệ thống giáo dục đại học, phần các giải pháp đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo nêu rõ: “Thông qua Hội đồng Hiệu trưởng các trường đại học, cao đẳng và trưởng khoa cùng nhóm ngành, các trường xây dựng đề án hình thành hệ thống thư viện điện tử chuẩn hoá, hiện  đại,  liên  thông”.  Trong  Quyết  định  số 121/2007/QĐ-TTg ngày 27/07/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc Phê duyệt quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng giai đoạn 2006-2020 cũng đề ra nhiều giải pháp, trong đó có giải pháp: “Tăng cường năng lực và nâng cao chất lượng hoạt động của thư viện ở các trường; hình thành hệ thống thư viện điện tử kết nối các trường trên cùng địa bàn, cùng một vùng và trên phạm vi toàn quốc; Thiết lập mạng thông tin toàn cầu và mở rộng giao lưu quốc tế cho tất cả các trường đại học, cao đẳng trong nước; Quy hoạch, sắp xếp lại công tác xuất bản giáo trình, sách và tài liệu tham khảo”.

Trong những năm gần đây, việc đầu tư cho các thư viện đại học là một trong những quan tâm hàng đầu của lãnh đạo nhiều trường. Vì vậy, thư viện đại học đã có những khởi sắc đáng kể. Một số thư viện đại học đã được đầu tư hoặc từ nguồn kinh phí nhà nước, hoặc từ vốn vay Ngân hàng thế giới, hoặc từ nguồn tài trợ nước ngoài hoặc từ nguồn vốn tự có. Dự án giáo dục đại học I đã đầu tư cho 25 trường đại học với gần 1/3 tổng số tiền của dự án. Kinh phí đầu tư cho thư viện đại học qua dự án này tăng dần từ 500.000 USD đến hơn 3 triệu USD.

Từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước với tổng kinh phí đầu tư gần 200 tỷ đồng, thư viện điện tử trường Đại học Bách khoa Hà Nội có toà nhà 10 tầng và các trang thiết bị hiện đại. Từ nguồn tài trợ nước ngoài của tổ chức Atlantic Philanthrophies (Quỹ từ thiện Đại Tây Dương) và quỹ Đông Tây hội ngộ (East Meets West) có 4 trung tâm học liệu lớn được xây dựng theo chuẩn quốc tế về kiến trúc thư viện với tổng kinh phí xấp xỉ trong khoảng từ 4 triệu USD đến gần 10 triệu USD. Ví dụ: Ðại học Huế (5,5 triệu USD, 7.000m2, hoạt động từ năm 2004), Ðại học Cần Thơ (hơn 9  triệu  USD,  7.200m2,  hoạt  động  từ  tháng 4/2006), Ðại học Thái Nguyên (4 triệu USD, 9.000m2, hoạt động từ tháng 11/2007), Ðại học Ðà Nẵng (5.830.000 USD, 7.900m2, hoạt động từ tháng 7/2005). Để phát triển bền vững, Nhà nước đã đầu tư tiếp tục nâng cấp Trung tâm Học liệu Đại học Huế từ năm 2009-2011 thêm 846.000 USD; Trung tâm Học liệu Đại học Ðà Nẵng được cấp thêm 876.000 USD từ tháng 11/2006-2008;

Trung tâm Học liệu Đại học Cần Thơ được cấp thêm 870.000 USD từ năm 2006-2008. Ngoài ra, ở một số trường đại học trọng điểm khác và các thư viện đại học có yếu tố nước ngoài, thư viện trường đại học tư thục chất lượng cao cũng được đầu tư khá hiện đại.

Vấn đề đặt ra hiện nay là cần đánh giá chính xác hiệu quả đầu tư để tạo điều kiện cho đầu tư tiếp tục, đầu tư nâng cao (đối với những thư viện đã được đầu tư) và các thư viện đang chuẩn bị được đầu tư hình dung trước các kết quả dự kiến khi làm các dự án đầu tư.

Trong thực tế, muốn đánh giá hiệu quả đầu tư phải đảm bảo các yêu cầu sau:

- Phải xuất phát từ mục tiêu của đầu tư. Hoạt động đầu tư không thể xem là có hiệu quả khi không đạt mục tiêu đề ra. Việc đánh giá hiệu quả phải luôn gắn với mục tiêu, xem xét có biểu hiện của lãng phí không? Có tình trạng tập trung quá nhiều nhân lực, vật lực một cách chưa thật sự cần thiết không? Chi kinh phí có hợp lý không?

- Phải xác định tiêu chuẩn hiệu quả để đánh giá hiệu quả đầu tư. Tiêu chuẩn hiệu quả được xem là thước đo thực hiện các mục tiêu của hoạt động đầu tư.

- Cần chú ý đến độ trễ thời gian trong đầu tư để phản ánh chính xác các kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để thực hiện đầu tư. Ví dụ: Trong quá trình thực hiện các hợp đồng, thời gian có bị kéo dài không? Chi phí có đội lên không?...

- Cần sử dụng một hệ thống các chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả của đầu tư.

- Phải đảm bảo tính khoa học và thực tiễn khi đánh giá hiệu quả của đầu tư [2]. Ví dụ: Có thường xuyên theo dõi, đánh giá kết quả thực hiện không? Định kỳ thời gian bao nhiêu lâu kiểm tra đánh giá kết quả thực hiện và đo lường chất lượng của các hoạt động đã thực hiện?

Nhìn chung, những thư viện đại học nào được đầu tư (nguồn vốn đầu tư có thể khác nhau) đều có thể đo lường được hiệu quả đầu tư qua các tiêu chuẩn sau:

Thư viện trở thành nơi cung cấp và đáp ứng yêu cầu sử dụng của cán bộ, giảng viên và người học về những nguồn thông tin quan trọng nhất, đầy đủ, toàn diện, phong phú, đa dạng nhất cả trong và ngoài nước

Tiêu chuẩn này đòi hỏi những nguồn thông tin do thư viện cung cấp, đảm bảo các thông tin đã được sàng lọc qua nhiều khâu, có cơ sở pháp lý và cơ sở khoa học, được lưu trữ lâu dài, được kiểm soát. Là những nguồn thông tin phù hợp với nhu cầu và thói quen sử dụng của sinh viên, giảng viên. Các chỉ tiêu cụ thể để đo lường thể hiện qua số lượng các cơ sở dữ liệu, các bộ sưu tập số, các bản thư mục, các ấn phẩm thông tin thư mục, các liên kết trang web...

Thư viện trở thành điểm kết nối giữa nguồn thông tin của xã hội và nhu cầu thông tin của sinh viên, giảng viên

Tiêu chuẩn này đòi hỏi khi khối lượng, phạm vi và chất lượng của nhu cầu tin trong sinh viên, giảng viên gia tăng nhanh chóng, thư viện phải tiến hành chọn lọc, tinh chế, bao gói thông tin. Phát hiện, xác định và kiến tạo nhu cầu thông tin của sinh viên, sau đó trình bày, giới thiệu và cung ứng thông tin mang tính định hướng cá nhân cho sinh viên, giảng viên. Các chỉ tiêu cụ thể để đo lường thể hiện qua số lượng phiếu điều tra nghiên cứu nhu cầu hàng năm, các bảng tổng hợp kết quả phân tích nhu cầu của sinh viên, giảng viên; Số lượng và chất lượng các sản phẩm và dịch vụ cung cấp cho sinh viên, giảng viên…

Thư viện trở thành môi trường rèn luyện các kỹ năng và phát huy năng lực độc lập trong việc khám phá tri thức và tư duy sáng tạo của sinh viên

Tiêu chuẩn này đòi hỏi thư viện mở ra một môi trường tri thức rộng lớn, thông thoáng và đa dạng để sinh viên mở rộng tầm nhìn và ước mơ của mình. Tại thư viện, sinh viên định hướng, xác định mục tiêu của công cuộc khám phá tri thức, rèn luyện kỹ năng nghiên cứu và trau dồi khả năng phân tích, tổng hợp các tư liệu tự sưu tầm được, khả năng tổng hợp thông tin từ nhiều nguồn khác nhau. Thư viện là điểm đến cần thiết để sinh viên tập dượt khả năng diễn đạt hiểu biết của mình một cách rõ ràng, mạch lạc cho người khác trong các phòng thảo luận nhóm với đầy đủ các thiết bị hỗ trợ trình chiếu các sản phẩm do sinh viên tạo ra. Các chỉ tiêu cụ thể để đo lường thể hiện qua số lượt sinh viên đến thư viện, số lượt sinh viên đọc, mượn tài liệu in ấn và số lượt sinh viên truy cập thư viện điện tử, số lượt sinh viên sử dụng các phòng thảo luận nhóm, phòng đa phương tiện, truy cập Internet...

Thư viện trở thành môi trường học tập thoải mái, thân thiện, địa điểm lý tưởng tạo ra các cơ hội học tập và giao lưu cho sinh viên

Tiêu chuẩn này đòi hỏi không gian thư viện phải thật thân thiện, tạo tâm lý thoải mái cho người sử dụng. Vì vậy, ở nhiều trường đại học nước ngoài hiện nay, không gian thư viện đại học được gọi là không gian học tập cộng đồng/ không gian thông tin cộng đồng hay còn được gọi là không gian học tập mở. Không gian này nhằm tạo ra những điều kiện cần thiết nhất để hỗ trợ những kỹ năng học tập, kỹ năng khai thác thông tin, kỹ năng tư duy phản biện, làm việc hợp tác, sáng tạo và thưởng thức việc đọc sách. Không gian học tập mở là không gian có đầy đủ dịch vụ cho học tập, nghiên cứu và dự án của sinh viên. Trong khuôn viên của thư viện có những khu vực là nơi mà sinh viên có thể sắp xếp lại bàn ghế cho phù hợp với các buổi thảo luận ngẫu hứng hoặc đã định trước, có những khu vực đọc đảm bảo sự yên tĩnh tuyệt đối để làm việc cá nhân, có khu vực dành cho sinh viên thư giãn và trao đổi với bạn bè, có khu vực cho sinh viên tổ chức những buổi diễn thuyết, trình diễn thời trang, triển lãm, sinh hoạt câu lạc bộ theo sở thích… Các chỉ tiêu cụ thể để đo lường thể hiện qua bảng tổng hợp các thông tin phản hồi của sinh viên, giảng viên. Số lượng và chất lượng các sản phẩm, dịch vụ cung ứng cho sinh viên, giảng viên...

Thư viện là phương tiện hỗ trợ đắc lực cho phương pháp dạy tích cực, học chủ động

Tiêu chuẩn này liên quan đến việc thiết lập mối quan hệ chặt chẽ giữa thư viện và đội ngũ giảng viên của các khoa, bộ môn trong trường. Giảng viên đã nghiên cứu kỹ trước các tài liệu có trong nguồn tài nguyên thông tin của thư viện, khi đến lớp áp dụng các phương pháp dạy học đa dạng và nêu ra các vấn đề mà sinh viên cần tìm hiểu, các bài tập phải làm trên cơ sở chỉ ra những nguồn tài liệu mà sinh viên cần nghiên cứu tham khảo. Sinh viên đến thư viện tìm tài liệu liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu, thảo luận, làm bài tập. Những điều sinh viên phát kiến, tìm tòi được sẽ khắc sâu vào tâm trí của sinh viên, vì đó là những điều họ tự tìm ra chứ không phải là những điều mà họ phải cố nhớ.

Khi nói đến hiệu quả đầu tư cho thư viện đại học là nói đến phạm trù kinh tế biểu hiện quan hệ so sánh giữa các kết quả kinh tế - xã hội đã đạt được của sự đầu tư với các chi phí phải bỏ ra để có các kết quả đó trong một thời kỳ nhất định.

Như vậy, muốn đánh giá chính xác hiệu quả đầu tư cho thư viện đại học cần phải xem xét một hệ thống các tiêu chí và trả lời hàng loạt các câu hỏi:

1.   Tiêu chí về mục tiêu đầu tư

Đầu tư có đạt mục tiêu đề ra không? Hiệu quả đầu tư được xem xét qua việc thực hiện mục tiêu như thế nào? Thoả mãn nhu cầu của giảng viên, sinh viên ở mức độ nào? Thông tin phản hồi như thế nào? Đã tạo ra một thư viện như thế nào? Có tác động gì đến giảng viên và sinh viên? Tác động như thế nào đến phương pháp dạy và phương pháp học? Các kết quả đạt được có bền vững không? Trả lời được các câu hỏi này sẽ làm rõ được sự tương quan giữa kết quả đạt được trên thực tế so với mục tiêu đầu tư đã được xác định trước.

2.  Tiêu chí về hệ thống chỉ tiêu đánh giá

Các chỉ tiêu để đánh giá hiệu quả đầu tư là những chỉ tiêu nào? Chỉ tiêu về số lượng là những chỉ tiêu nào? Chỉ tiêu về chất lượng là những chỉ tiêu nào? Chỉ tiêu nào là chỉ tiêu định tính? Chỉ tiêu định lượng là những chỉ tiêu nào?

Ví dụ: Số lượng đầu sách/ bản sách in được bổ sung? Số lượng cơ sở dữ liệu nội sinh được xây dựng? Số lượng cơ sở dữ liệu mua quyền truy cập, số lượng máy móc được trang bị, số lượng nhân viên được đào tạo nâng cao trình độ? Các chỉ số gia tăng về năng suất lao động? Các chỉ số gia tăng về số lượng giảng viên, sinh viên khai thác sử dụng tài liệu của thư viện? Số lượng tài liệu được lưu hành, các cuộc thi, hội nghị, hội thảo, các sự kiện được tổ chức… Các chỉ số gia tăng về vòng quay của tài liệu? Chất lượng dịch vụ thư viện cải thiện như thế nào? Mức độ thành thạo về kỹ năng tư vấn, huấn luyện sinh viên về kiến thức thông tin? Chất lượng nội dung các chương trình hướng dẫn sử dụng thư viện trực tuyến? Mức độ hoàn thiện cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin? Mức độ gắn kết với các khoa? Mối quan hệ với cộng đồng: phục vụ đối tượng bên ngoài?...

alt

Các hệ số tăng trưởng này cần tiếp tục được thể hiện trong các báo cáo tổng kết hoạt động thư viện hàng năm. Căn cứ vào các con số này sẽ đánh giá tác động của đầu tư trong một khoảng thời gian nhất định (ví dụ, từ 3-5 năm), sau đó các thư viện có thể được tiếp tục đầu tư.

Bên cạnh việc tính các hệ số khác nhau, khi đánh giá hiệu quả đầu tư còn phải trả lời các câu hỏi như thư viện có thực hiện việc tổng hợp các số liệu từ các phiếu thăm dò ý kiến giảng viên, sinh viên về tinh thần thái độ phục vụ, mức độ hài lòng, về nhu cầu không? Thư viện có tiến hành phân tích dữ liệu về chất lượng của việc tổ chức các cuộc thi, hội thảo, sự kiện không? Giảng viên, sinh viên đánh giá như thế nào về các sản phẩm, dịch vụ của thư viện? Có nhiều giảng viên, sinh viên đã tận dụng được những tiện ích của cơ sở vật chất, trang thiết bị hay không? Các tiện ích và thái độ phục vụ, tính chuyên nghiệp của nhân viên thư viện đã ảnh hưởng như thế nào đến hành vi của giảng viên, sinh viên và việc lựa chọn tài liệu, tìm kiếm thông tin của họ?...

Ngoài ra, việc xác định các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư vào thư viện đại học có thể được xem xét như hiệu quả đầu tư đối với các doanh nghiệp hoạt động công ích, cụ thể là một số chỉ tiêu sau:

- Sự thay đổi (biến động) của chi phí.

- Tỷ lệ chi phí cố định cho mỗi hạng mục.

- Tỷ lệ sử dụng các nguồn lực được đầu tư.

1. Tiêu chí về hiệu quả tài chính

Hiệu quả tài chính của đầu tư là gì? Có sinh lời từ vốn đầu tư không? Có thực hiện các dịch vụ có thu không? Thời gian khấu hao máy móc thiết bị? Tỷ số lợi ích – chi phí? Thời gian hoàn vốn? Thời gian thu hồi vốn đầu tư? Mức tăng trưởng hiệu quả kinh tế trong thực hiện phục vụ người sử dụng đến thư viện sau khi đầu tư có thể đo bằng cách tính chi phí thời gian trung bình của một nhân viên cho việc phục vụ một người dùng hoặc số lượng người đến sử dụng thư viện tăng lên hàng năm nhưng không tăng nhân viên phục vụ.

2. Tiêu chí về hiệu quả kinh tế - xã hội

Hiệu quả kinh tế - xã hội đạt được từ góc độ nhà đầu tư và góc độ quản lý nhà nước là gì? Từ góc độ nhà đầu tư (nhà nước, tổ chức phi chính phủ, tư nhân…) bao gồm các chỉ tiêu: các dịch vụ có thu đóng góp cho ngân sách, lượt đến, lượt đọc tăng lên, mức độ tăng năng suất lao động của nhân viên thư viện, mức nâng cao trình độ nghề nghiệp, tính chuyên nghiệp, năng lực tác nghiệp của nhân viên thư viện, tạo cơ hội cho sinh viên được học tập và nghiên cứu trong môi trường mới, nâng cao trình độ quản lý của lãnh đạo thư viện, các tác động đối với cộng đồng…

Đứng trên góc độ quản lý nhà nước, các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế - xã hội là số lượng thư viện hiện đại tăng lên, chỉ số lao động có trình độ cao tăng, lượng thông tin luân chuyển trong xã hội tăng, mức giá trị gia tăng hưởng thụ tri thức và thông tin không chỉ trong sinh viên mà cả cộng đồng, chỉ tiêu mức tiết kiệm ngoại tệ trong bổ sung tài liệu trong hệ thống thư viện đại học, chỉ tiêu tăng khả năng hội nhập quốc tế.

Trong thực tế thường sử dụng một số phương pháp sau để đánh giá hiệu quả đầu tư tại thư viện đại học:

* Phương pháp phân tích tình trạng và xu hướng biến đổi của các chỉ số hiệu quả:

- Phân tích tỷ lệ tài liệu/ tổng các ngành đào tạo, tài liệu/ sinh viên, tài liệu/ giảng viên…, sự biến đổi theo tỷ lệ của các chỉ số này hàng năm sẽ đánh giá một cách khách quan về hiệu quả đầu tư vào thư viện đại học.

Phân tích cơ cấu chi phí để thấy rõ sự khác biệt trong quá trình đầu tư. Tại mỗi thư viện tuy có những chính sách đầu tư khác nhau nhưng sự phân chia chi phí theo cơ cấu hợp lý sẽ tạo nên hiệu quả cao nhất. Cơ cấu chi phí có thể thay đổi hàng năm, phù hợp với mục tiêu trước mắt và lâu dài.

- Phân tích tình trạng sử dụng các hạng mục được đầu tư (cơ sở vật chất, trang thiết bị, nguồn tài nguyên thông tin, nhân lực).

* Phương pháp so sánh các chỉ số hiệu quả trong thư viện hoặc giữa các thư viện với nhau:

- So sánh các hạng mục đầu tư của các thư viện, hiệu quả đầu tư cao hơn thuộc về chi phí đơn vị nhỏ hơn.

- Khi có cùng chi phí đơn vị thì phải chỉ ra chất lượng đầu tư ở thư viện nào cao hơn.

- So sánh chỉ số cụ thể của hoạt động đầu tư vào thư viện với một con số trung bình của hoạt động đầu tư vào một hạng mục khác của trường.

Vấn đề đầu tư cho thư viện đại học ở Việt Nam là rất cần thiết, quan trọng và cấp bách, đặc biệt trong bối cảnh đào tạo theo học chế tín chỉ. Việc đầu tư tại các thư viện đại học trong vòng 10 năm trở lại đây được nhiều lãnh đạo đại học quan tâm nhưng mức độ đầu tư rất khác nhau. Những thư viện đại học đã được đầu tư nhìn bên ngoài đều có trụ sở khang trang, tạo khả năng thực hiện được nhiều dịch vụ tiện ích hơn, lượng sinh viên đến sử dụng thư viện nhiều hơn, thư viện có vị thế tốt hơn trong con mắt của giảng viên, sinh viên và cộng đồng.

Trong Chiến lược phát triển giáo dục 2011 – 2020 ban hành kèm theo Quyết định số 711/QĐ- TTg ngày 13/06/2012 của Thủ tướng Chính phủ, phần đánh giá những bất cập, yếu kém đã xác định “Thư viện, phòng thí nghiệm, phòng học bộ môn và các phương tiện dạy học chưa đảm bảo về số lượng, chủng loại và chất lượng so với yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục, nhất là ở các trường đại học”. Nghị quyết số 05-NQ/BCSĐ ngày 06/01/2010 của Ban cán sự Đảng Bộ Giáo dục và Đào tạo về đổi mới quản lý giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2010 -2012 cũng chỉ rõ “Thư viện các trường còn nghèo nàn, giáo trình tài liệu chưa đáp ứng yêu cầu cả về số lượng và chất lượng”.

Nhìn chung, hiệu quả đầu tư cho thư viện đại học hiện nay là một vấn đề nhạy cảm, đặc biệt với các trường đại học công lập. Chính vì vậy, các thư viện đại học muốn thuyết phục các cơ quan có thẩm quyền và các cấp lãnh đạo đầu tư cần xác định rõ ràng mục tiêu đầu tư và làm rõ được các thay đổi cũng như các tác động đến giảng viên, sinh viên và cộng đồng. Bên cạnh đó, khi đã được chấp thuận đầu tư thì tăng cường giám sát chặt chẽ quá trình triển khai dự án đầu tư, có biện pháp chế tài, xử lý nghiêm khắc các hạng mục đầu tư còn kém hiệu quả và giáo dục ý thức sử dụng tiết kiệm, khai thác triệt để các nguồn lực đã được đầu tư cho nhân viên thư viện và người sử dụng thư viện.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bùi Loan Thuỳ, Đào Hoàng Thuý. Tổ chức quản lý công tác thông tin thư viện. - Tp. Hồ Chí Minh : Nxb. Tp. Hồ Chí Minh, 1998.

2. Nguyễn Bạch Nguyệt, Từ Quang Phương. Giáo trình Kinh tế đầu tư. - H.: Đại học Kinh tế Quốc dân, 2007.

3. Bawden, D. and Rowlands, I.. Understanding Digital Libraries : towards a concep- tual framework. - British Library Research and Innovation Centre, 1999.

4. John Martin Cooper. Strategic financial planning for research libraries : Alternative financial scenarios for Harvard College Library beyond the year 2000. - Harvard University. - 2000. - 141p.

5. Prem Chand, Suresh K. Chauhan. The union catalogue of academic libraries in India: an ini- tiative by Inflibnet // Interlending & Document Supply. - 2008. - No. 36 (3). - p. 142-148.

http://homepage.data-planet.com/.

______________________________

 

PGS.TSKH. Bùi Loan Thuỳ - ThS. Ngô Thị Bích Phương 

Nguồn: Tạp chí Thư viện Việt Nam. - 2014. - Số 1. - Tr. 22-28.

 

Dự án và dự án phát triển cơ quan thông tin - thư viện

E-mail Print

Hiện nay vấn đề dự án và xây dựng dự án đối với các cơ quan của nhà nước, trong đó có cơ quan thông tin - thư viện (TT-TV) đã không còn là vấn đề xa lạ. Mặc dù vậy, không phải mọi người ai cũng hiểu sâu sắc về dự án và biết cách xây dựng dự án phát triển cơ quan, tổ chức của mình. Bởi vậy, nhiều cơ quan, tổ chức muốn xin tài trợ từ dự án vẫn phải thuê cá nhân hoặc tổ chức khác viết dự án cho cơ quan, tổ chức của mình. Xuất phát từ lý do này, tác giả bài viết xin trao đổi cùng bạn đọc một số thông tin về vấn đề dự án. Hy vọng với bài viết của mình sẽ phần nào chia sẻ những thông tin hữu ích với những ai muốn quan tâm đến vấn đề này.

1. Một số vấn đề chung về dự án và xây dựng dự án phát triển cơ quan thông tin - thư viện

1.1. Khái niệm dự án

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về dự án, tựu trung lại tác giả cho rằng có thể hiểu dự án như sau: Dự án là một tổng thể các hoạt động dự kiến được bố trí theo một trình tự chặt chẽ với nguồn lực và thời gian cần thiết cũng như địa điểm xác định nhằm thực hiện những mục tiêu đã được đề ra.

1.2. Đặc điểm của dự án

- Dự án có mục tiêu cụ thể rõ ràng. Ví dụ: xây dựng một cái cầu, gây một quỹ cho hoạt động từ thiện, bảo tồn một di tích lịch sử...

Dự án là một chuỗi các hoạt động liên tục: từ xác định mục tiêu của dự án, đối tượng liên quan của dự án, quy mô dự án, đội ngũ thực hiện dự án, kinh phí cho dự án... cho đến kết thúc dự án.

- Dự án có ràng buộc về nguồn lực: nhân lực, vật lực, tài lực...

- Dự án có thời hạn nhất định: thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc.

- Tổ chức dự án là một bộ máy tạm thời. Khi kết thúc dự án tổ chức này không còn tồn tại.

- Dự án có chu kỳ hoạt động bao gồm 3 hoặc 4 giai đoạn với tên gọi khác nhau. Ví dụ: Khởi đầu dự án, triển khai dự án, kết thúc dự án hoặc xác định và xây dựng dự án, lập kế hoạch, quản lý thực hiện và kết thúc dự án. Nhìn chung theo nhiều tác giả, chu kỳ hoạt động của dự án thường bao gồm 3 giai đoạn: chuẩn bị dự án, thực hiện dự án và kết thúc dự án.

- Dự án thường mang tính không chắc chắn, nhất là các dự án nảy sinh từ nhu cầu của một tổ chức, một cá nhân hay nhóm.

1.3. Phân biệt dự án, đề án và chương trình

Trong thực tế, ngoài chương trình được hiểu là một tổ hợp các dự án hoặc nhóm đề tài được tập hợp theo một mục đích xác định (ví dụ: các chương trình mục tiêu quốc gia liên quan đến chương trình xoá đói giảm nghèo như “Chương trình về phòng chống một số bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm và HIV/AIDS” có các dự án phòng chống bệnh sốt rét, phòng chống bệnh bướu cổ, bệnh phong, bệnh lao…; “Chương trình về giáo dục và đào tạo” có dự án đào tạo cán bộ tin học và đưa tin học vào nhà trường; dự án xây dựng một số trường đại học, trung học chuyên nghiệp trọng điểm; “Chương trình phát triển văn hoá” có các dự án chống xuống cấp và tôn tạo các di tích lịch sử; Dự án nghiên cứu, điều tra, bảo tồn một số làng, bản, buôn tiêu biểu và lễ hội truyền thống đặc sắc của dân tộc ít người…) thì có không ít người hiểu dự án và đề án là như nhau. Tác giả cho rằng, giữa dự án và đề án có những điểm tương đồng như chúng đều làm một bản đề xuất trình lên một cấp quản lý hay một cơ quan tài trợ để xin được thực hiện một công việc nhất định. Song giữa chúng cũng có một số điểm khác biệt giúp chúng ta nhận dạng để khi viết đề xuất sẽ tránh được sự nhầm lẫn. Thứ nhất, như trên đã trình bày dự án là một đề xuất, xuất phát từ nhu cầu của một tổ chức, một cơ quan nên có thể nó không mang tính chắc chắn (bởi theo cơ quan đề xuất dự án thì ý tưởng mà mình đưa ra mang tính cấp thiết, nhưng cơ quan quản lý hay tài trợ lại cho là chưa cấp thiết). Thứ hai, bản thân dự án chỉ có một hay nói cách khác là "độc nhất vô nhị” với mục tiêu đầu ra cụ thể. Ngược lại, đề án được xây dựng trên cơ sở có căn cứ khoa học, căn cứ pháp lý và tính cấp thiết rõ ràng phục vụ cho chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong một giai đoạn nhất định. Nhiều khi đề án mang tầm cỡ một Bộ, một Ngành hoặc một Quốc gia… và nếu như dự án chỉ là một thì đề án lại có thể bao hàm nhiều dự án và chương trình khác nhau (ví dụ: Đề án “Đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo của các trường văn hoá nghệ thuật giai đoạn 2011-2020” có các dự án như: Đổi mới cơ cấu đào tạo và phát triển hoàn thiện mạng lưới các cơ sở đào tạo văn hoá nghệ thuật; Dự án đổi mới nội dung và phương thức đào tạo văn hoá nghệ thuật trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học và sau đại học; Dự án đổi mới công tác tuyển sinh, tốt nghiệp trong lĩnh vực văn hoá nghệ thuật; Dự án nâng cao năng lực và hiệu quả đào tạo của các trường văn hoá nghệ thuật…).

 

1.4. Khái niệm dự án phát triển cơ quan thông tin - thư viện

Có thể có nhiều cách lý giải về thuật ngữ phát triển cũng như có nhiều cách hiểu về dự án phát triển cơ quan TT-TV khác nhau. Ở đây tác giả cho rằng: phát triển là tạo ra cái mới hoặc hoàn thiện về căn bản cái đã có về số lượng và chất lượng. Trên tinh thần như vậy, có thể hiểu dự án phát triển cơ quan TT-TV là tổng thể các hoạt động dự kiến được bố trí theo một trình tự chặt chẽ với nguồn lực, thời gian cần thiết và địa điểm xác định nhằm tạo ra cái mới (sự tăng trưởng về số lượng và chất lượng) cho các hoạt động của thư viện.

1.5. Vai trò của dự án phát triển cơ quan thông tin - thư viện

Dự án nói chung trong đó có dự án phát triển cơ quan TT-TV được coi là sự cứu cánh đối với các cơ quan này trong việc tạo ra một sự thay đổi nào đó về lượng và chất góp phần làm đổi mới diện mạo của cơ quan phù hợp với bối cảnh thực tế.

Với sự đầu tư có giới hạn về nguồn lực cho đầu vào nhưng dự án lại phải hoàn thành một sản phẩm đầu ra độc đáo (độc nhất, vô nhị). Do đó dự án được coi là công cụ quản lý quan trọng, giúp các cơ quan này thực hiện được các mục tiêu đề ra trong giới hạn về nguồn lực. Nói một cách khác, dự án có vai trò như là các giải pháp hữu hiệu cho việc sử dụng các nguồn lực đầu vào có giới hạn để thu được đầu ra theo mục tiêu đã định.

2. Sự cần thiết phải xây dựng dự án phát triển cơ quan thông tin - thư viện

Hiện tại, các dự án phát triển cơ quan TT-TV cũng đã được triển khai ở một số nơi. Ví dụ: Dự án xây dựng thư viện điện tử, dự án số hoá tài liệu quý hiếm hoặc dự án trang thiết bị nội thất thư viện tỉnh, thành phố...

Trong các dự án trên, có những dự án xuất phát từ nhu cầu thực tế được cơ quan tài trợ ủng hộ, cũng có dự án được bản thân cơ quan tài trợ gợi ý cấp. Tuy nhiên, cho dù ở cấp độ nào thì vấn đề xây dựng dự án cũng chưa được các cơ quan TT-TV cho là nhu cầu cần thiết. Bởi vậy, các dự án chỉ mang tính tự phát. Có thể nói một trong những nguyên nhân của tình trạng trên là do các thư viện đã quá quen với chế độ bao cấp, mọi hoạt động của thư viện chỉ chủ yếu trông chờ vào ngân sách Nhà nước cấp.

Trong xu thế hội nhập năng động và đầy biến động, áp lực công việc nhất là áp lực cạnh tranh buộc các cơ quan nói chung trong đó có cơ quan TT-TV không thể không triển khai nhanh các công việc một cách có hiệu quả. Chính vì vậy, để có thể hoàn thành đúng mục tiêu công việc với một khoảng thời gian và ngân sách nhất định, các nhà quản lý nói chung và cơ quan TT-TV nói riêng không còn con đường nào khác là phải áp dụng phương thức quản lý khoa học. Một trong những phương thức quản lý đó là quản lý theo dự án. Điều đó có nghĩa là, bất kỳ một công việc nào muốn đạt được kết quả theo mục tiêu đã đặt ra từ trước và với một nguồn lực nhất định thì vấn đề cần làm là hãy thực hiện nó như thực hiện một dự án.

3. Xây dựng dự án theo ý đồ của nhà tài trợ

Như phần trên đã nêu, dự án có thể được xây dựng trên ý tưởng xuất phát từ nhu cầu thực tế của cơ quan song cũng có dự án được xây dựng dựa trên gợi ý của nhà tài trợ. Trong bài viết này, tác giả xin trao đổi vấn đề xây dựng dự án dựa trên sự gợi ý của cơ quan tài trợ.

Để xây dựng dự án theo cách này, trước hết nhà thiết kế dự án cần xác định chủ đề, mục tiêu, nội dung và nguồn lực cần thực hiện phù hợp với yêu cầu của nhà tài trợ. Cụ thể, dự án phải trả lời được các câu hỏi chính sau:

- Chủ đề của dự án là gì?

- Mục tiêu của dự án là gì?

- Kết quả của dự án là gì?

- Đối tượng hưởng lợi là ai? Bao nhiêu?

- Địa điểm thực hiện dự án ở đâu?

- Thời gian: khi nào bắt đầu? thời hạn kết thúc là bao lâu?

- Cách giải quyết vấn đề như thế nào?

- Kinh phí của dự án là bao nhiêu?...

Sau khi đã trả lời chi tiết từng câu hỏi trên, nhà thiết kế dự án cần viết đề cương dự án chi tiết theo mẫu hướng dẫn của nhà tài trợ. Vấn đề lưu ý ở đây là: muốn dự án thành công, nhất thiết người viết dự án phải am hiểu vấn đề mà nhà tài trợ đặt ra hay nói một cách khác là phải hiểu về nhà tài trợ, hiểu họ muốn vấn đề gì (mà người ta quen gọi là nắm được “Gu” của nhà tài trợ) để khai thác khía cạnh có lợi cho mình. Như vậy, người viết dự án vừa phải viết đúng mẫu lập dự án vừa phải hiểu thấu đáo nhà tài trợ. Thông thường không có một mẫu chung cho tất cả các bản đề xuất dự án. Tuy nhiên mẫu của một bản đề xuất dự án thường theo yêu cầu của nhà tài trợ dựa trên tiêu chí có sẵn. Dưới đây là một ví dụ về cấu trúc một bản đề xuất dự án cổ điển bao gồm 10 bước và nguyên tắc cho những bản đề xuất dự án tốt (tư liệu của dự án quỹ Ford).

Cấu trúc một bản dự án cổ điển: Bao gồm 10 bước

Tên/ tiêu đề: Một câu tóm lược

Phần 1

- Giới thiệu chủ đề của dự án;

- Bối cảnh toàn cầu;

- Những vấn đề đã biết.

Phần 2

- Nền tảng và bối cảnh cụ thể ở Việt Nam;

- Những vấn đề đã biết;

- Dẫn chứng.

Phần 3

- Mô tả Dự án;

- Phác thảo những yếu tố/ phương diện chính.

Phần 4

Giải thích về những kỹ thuật và phương pháp được sử dụng để thực hiện dự án (đào tạo/ các phương pháp nghiên cứu/ giáo dục…).

Phần 5

- Thông tin sâu về những đối tác và giải thích tại sao họ phù hợp cho dự án;

- Dẫn chứng.

Phần 6

Mô tả chi tiết về từng yếu tố/ phương diện.

Phần 7

Những phương pháp giám sát, đánh giá và các phương pháp được sử dụng.

Phần 8

Phân tích những rủi ro.

Phần 9

- Hậu cần;

- Khung thời gian thực hiện dự án;

- Kinh phí.

Phần 10

Phụ lục - tư liệu bổ trợ/ các bảng biểu của tổ chức, những tài liệu bổ trợ khác.

Nguyên tắc cho một bản đề xuất dự án đạt kết quả tốt

1. Vấn đề nêu ra phải cụ thể.

2. Lập dự án của đơn vị/ tổ chức trong bối cảnh của một vấn đề mang tính quốc gia/ toàn cầu.

3. Không bao giờ được giả định rằng nhà tài trợ hiểu vấn đề bạn đang nêu ra.

4. Sử dụng bản đề xuất dự án gồm 3 phần.

5. Sử dụng những dấu (hoa thị, dấu cộng…) trong bản đề xuất dự án để gây sự chú ý cho người đọc.

6. Không kết hợp nhiều hơn một ý tưởng dự án trong một bản đề xuất - tập trung vào một ý tưởng chính.

7. Nên nhớ rằng bạn đang bán một ý tưởng.

8. Bắt đầu với một dự án thí điểm nếu vấn đề quá rộng hoặc quá lớn để có thể giải quyết ngay.

9. Đảm bảo sự tham gia rộng mở của nhiều đối tác trong dự án.

10. Đảm bảo rằng những sản phẩm đầu ra của dự án có thể tái tạo và duy trì trong tương lai.

11. Sử dụng kết hợp các kỹ thuật đánh giá tại chỗ trong nghiên cứu định lượng và định tính.

12. Phải có khả năng viết một trang (A4) tổng quan về dự án của đơn vị/ tổ chức.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Cao Đức Hải, Lê Ngọc Thuỷ. Quản lý dự án văn hoá nghệ thuật. - H.: Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2009. - 151tr.

2. Cẩm nang kinh doanh - Harvard. Quản lý dự án lớn và nhỏ : tài liệu dịch. - Tp. Hồ Chí Minh : Tổng hợp, 2006. - 192tr.

3. Tài liệu tham khảo các bài giảng môn "Quản lý dự án”. - H.: Trung tâm A&C, 2006. 

____________________________

PGS.TS. Nguyễn Thị Lan Thanh

Trường Đại học Văn hoá Hà Nội

Nguồn: Tạp chí Thư viện Việt Nam - 2014. - Số 1. - Tr. 13-16.

 

Thư viện đại học trước xu thế sử dụng thiết bị di động trong học tập của sinh viên

E-mail Print

Đặt vấn đề

Các thiết bị di động như điện thoại thông minh, máy tính bảng, máy đọc sách điện tử, hay máy tính xách tay có kết nối Internet ngày càng trở nên quen thuộc và là một vật dụng không thể thiếu của giới trẻ, đặc biệt là sinh viên (SV). Tuy nhiên, những thiết bị này đang được cho là sử dụng chủ yếu cho giải trí và mạng xã hội, việc sử dụng cho mục đích học tập vẫn còn hạn chế và bị đánh giá thấp. Do vậy, thiết bị di động đôi khi bị xem là vật dụng thời trang hơn là những thiết bị hỗ trợ học tập. Thực tế, việc phát triển nội dung số cho hoạt động đào tạo đang còn hạn chế, do vậy đánh giá trên phần nào được nhiều người đồng thuận. Tuy nhiên, để có cái nhìn khách quan và có cơ sở hơn, cũng như giúp thư viện đại học (TVĐH) nắm bắt được xu thế mới trong cung cấp thông tin trực tuyến, chúng tôi tiến hành nghiên cứu khảo sát tình hình sử dụng thiết bị di động trong SV với mục tiêu đánh giá xem thiết bị di động có được sử dụng trong hoạt động học tập không và các TVĐH sẽ làm gì để bắt kịp xu hướng số và di động hiện nay.

Để đạt được mục tiêu trên, trong nghiên cứu này chúng tôi đặt ra 3 câu hỏi: (1) Tình hình sử dụng thiết bị di động của SV vào việc học tập hiện nay như thế nào? (2) Những yếu tố nào tác động đến việc sử dụng thiết bị di động cho việc học tập trong SV? (3) Các TVĐH sẽ làm gì để nâng cao khả năng khai thác và sử dụng tài liệu số thông qua thiết bị di động của SV?

Để trả lời những câu hỏi trên, chúng tôi tiến hành phỏng vấn các SV từ năm thứ nhất đến năm cuối, sau đó điều tra diện rộng bằng bảng hỏi. Dữ liệu được tổng hợp, phân tích và so sánh để tìm ra câu trả lời cho vấn đề nghiên cứu đặt ra.

Tổng quan về học tập trên thiết bị di động - Mobile learning

Học tập trên di động - Mobile learning (MLearning) có nhiều định nghĩa và cách hiểu khác nhau và ở mỗi một lĩnh vực có cách nhìn riêng. M-learning liên quan đến các lĩnh vực như học tập điện tử (E-learning), công nghệ giáo dục (Educational technology) và đào tạo từ xa (Distance learning). Tất cả có điểm chung là học tập và giảng dạy dựa trên thiết bị và công nghệ di động. Theo Crompton [4], M-learning là việc học tập trong bối cảnh đa dạng, thông qua việc tương tác xã hội và nội dung học tập, hoạt động này dựa trên các thiết bị điện tử cá nhân. Hay nói cách khác, với việc sử dụng các thiết bị di động, người học có thể học bất kỳ lúc nào và bất kỳ ở đâu. M-learning được coi là việc sử dụng thiết bị di động để hỗ trợ giảng dạy và học tập. Chỉ cần một thiết bị nhỏ gọn như điện thoại, máy tính bảng hay máy tính xách tay có kết nối Internet là người học có thể thực hiện việc tiếp thu kiến thức của mình.

Kukulska-Hulme và Traxler [7] cho rằng, thiết bị di động sẽ tạo ra bước đột phá trong giáo dục, hỗ trợ các trường đại học nâng cao chất lượng giáo dục và mở rộng cơ hội cho người học. Đây cũng là cơ hội tốt cho các nhà cung cấp thiết bị và nội dung cùng tham gia xây dựng chương trình đào tạo trên các thiết bị điện tử thông minh. Điều này cũng được McGreen và Arnedillo [9] chỉ ra trong nghiên cứu của mình là đào tạo qua thiết bị di động là một xu thế tất yếu. Thiết bị điện tử thông minh đã được sử dụng rộng rãi trong việc tạo ra các nguồn học liệu số phục vụ hoạt động đào tạo [6]. Theo Graham [5] các nhà sư phạm đang chuyển dần việc ngăn cấm SV sử dụng các thiết bị di động trong lớp học sang cách áp dụng các nội dung học có thể dùng thiết bị di động như một công cụ học tập. Sử dụng thiết bị di động kết hợp với web 2.0 đã và đang tạo ra một xu thế mới trong hoạt động đào tạo tại các trường đại học: đó là đào tạo trực tuyến và đào tạo từ xa. Laru và Järvelä [8] cho rằng sử dụng công nghệ web 2.0 kết hợp với thiết bị di động sẽ tạo ra những cộng đồng học tập trực tuyến và chia sẻ tri thức. Trong một nghiên cứu khác, Cavus và Al-Momani [2] đánh giá cao vai trò của thiết bị di động và các thiết bị điện tử thông minh. Trong đó, các hệ thống thiết bị di động sẽ tạo ra một hệ thống đào tạo mềm dẻo cho các trường đại học.

Đã có nhiều nghiên cứu về những ảnh hưởng, yếu tố tác động đến việc sử dụng thiết bị điện tử cho việc học tập của các SV. Theo kết quả nghiên cứu của Chen và Denoyelles [3] cho thấy sự phổ biến của thiết bị di động trong SV đang ngày một gia tăng đáng kể. Nhiều SV mang các thiết bị điện tử của mình vào đại học (bởi các tính năng vượt trội và thiết kế ưu việt, nhỏ gọn như điện thoại thông minh và máy tính bảng, máy tính xách tay). Trong đó tỷ lệ SV sử dụng máy tính xách tay (85%) được dùng như các thiết bị quan trọng nhất cho sự thành công học tập của mình, bên cạnh đó các thiết bị điện tử như máy tính bảng (45%), điện thoại thông minh (37%) và máy đọc sách điện tử (31%) đang có sự gia tăng đáng kể theo từng năm. Nghiên cứu cũng cho thấy, có nhiều SV nói họ muốn có thể truy cập tài nguyên học tập trên các thiết bị di động của họ. Báo cáo chỉ ra rằng 67% điện thoại thông minh và máy tính bảng của SV đang được sử dụng cho mục đích học tập.

Nghiên cứu về sở hữu và việc sử dụng thiết bị di động của SV cho ta sự hiểu biết rõ ràng hơn về tình hình sử dụng thiết bị di động của SV, qua đó giúp các trường đại học có sự hỗ trợ cần thiết cho SV. Sau đây chúng tôi đưa ra những kết quả khảo sát và đánh giá về tình hình sử dụng thiết bị di động của SV ở một số trường đại học tại Việt Nam.

Tình hình sử dụng thiết bị di động của sinh viên

Trả lời cho câu hỏi “Bạn đang sử dụng những thiết bị điện tử/ di động nào?”, có 50% SV sở hữu một chiếc điện thoại thông minh, 7% là máy tính bảng, cao nhất 77% SV sử dụng laptop, các thiết bị khác 6%. Nhiều SV cùng lúc sở hữu nhiều thiết bị khác nhau. Có thể thấy ngày nay mức sống đã được cải thiện hơn, SV vì thế cũng trang bị cho mình thêm nhiều đồ dùng công nghệ phục vụ cho học tập và giải trí như là nhu cầu thiết yếu của cuộc sống.

Vậy họ thường sử dụng chúng cho mục đích gì và mức độ thường xuyên như thế nào? Theo kết quả khảo sát của chúng tôi, đa phần các bạn trẻ dùng chúng cho nhiều mục đích như nghe nhạc, xem phim, lên mạng xã hội tương tác với bạn bè, trò chơi, học tập hay mua bán… Kết quả khảo sát cho thấy, ba hoạt động chính của SV trong sử dụng thiết bị di động đó là nghe nhạc (81%), học tập (80%) và vào mạng xã hội (77%). Như vậy, ngoài việc sử dụng thiết bị di động cho giải trí thì sử dụng cho mục đích học tập cũng đã được SV chú trọng. Điều này khẳng định, thiết bị di động đã được sử dụng cho mục đích học tập, không như hoài nghi cho rằng chúng đang sử dụng đơn thuần cho hoạt động giải trí. Biểu đồ 1 trình bày kết quả khảo sát các mục đích chính của SV khi sử dụng thiết bị di động.

alt

Biểu đồ 1. Mục đích sử dụng thiết bị di động của sinh viên

Ở một thước đo khác, nếu xét theo mức độ “thường xuyên” sử dụng thiết bị di động cho các hoạt động cụ thể, dẫn đầu là các mục đích lên mạng xã hội facebook, nghe nhạc, đọc tin tức và học tập với tỷ lệ lần lượt là 75%, 74%, 73% và 69%. Các mục đích còn lại như chơi game, mua bán online,… chiếm tỷ lệ thấp thể hiện tính không phổ biến trong SV. Dù chơi game không chiếm tỷ lệ cao ở mức độ rất thường xuyên và thường xuyên, nhưng tỷ lệ tích luỹ hai mức độ này đạt mức 27% cũng là vấn đề đáng lo ngại, bởi lẽ thường xuyên chơi game sẽ dẫn đến nghiện game và từ đó dẫn đến nhiều hệ luỵ khác, trong đó có việc sa sút kết quả học tập, ngoài ra có thể dẫn đến sức khoẻ kém.

Khảo sát cũng chỉ ra rằng thiết bị di động đang được sử dụng tốt cho mục đích học tập. Một bạn sinh viên năm thứ tư chia sẻ “mình bây giờ thiếu máy tính xách tay hay điện thoại thì không biết phải xoay xở thế nào. Hầu hết các bài tập, tiểu luận, bài thuyết trình và tài liệu tham khảo mình đều lưu trên đó. Bên cạnh đó còn phải tham gia các nhóm của từng môn học trên facekbook và vào trang web môn học hay cổng đào tạo của nhà trường nữa. Bọn mình có thể chia sẻ, nhắn tin và trao đổi rất nhanh thông qua kết nối trên mạng”. Biểu đồ số 2 cho thấy mức độ thường xuyên sử dụng thiết bị di động cho học tập chiếm gần 69%. Điều này cho thấy thiết bị di động đang trở thành một công cụ học tập cho SV.

alt

Biểu đồ 2. Mức độ sử dụng thiết bị di động cho mục đích học tập

Tìm hiểu SV thường sử dụng trang web nào cho học tập, chúng tôi thấy rằng SV thường hay truy cập vào trang web của cổng thông tin đào tạo và trang web nhà trường chiếm tỷ lệ cao nhất, lần lượt là 55%, 52%, đứng thứ ba là trang web môn học 34%. Thấp nhất là trang web thư viện (TV) chỉ với 19%, đây là con số đáng lo ngại. Nó đặt ra cho chúng ta câu hỏi là tại sao trang web của TV ít được SV để ý và truy cập như vậy? Liệu có phải do nguồn tài liệu điện tử ở đây quá ít? Hay thông tin cung cấp không đầy đủ?... Đây sẽ là những câu hỏi chúng ta cần đi tìm lời giải.

Để trả lời những câu hỏi trên, chúng tôi đã tiến hành tìm hiểu về thói quen, mức độ thường xuyên truy cập trang web TV của SV. 25% trả lời rằng họ thường xuyên truy cập, mức độ thỉnh thoảng truy cập và hiếm khi chiếm tỷ lệ cao nhất lần lượt là 40% và 30%. Có 5% trả lời là không bao giờ truy cập trang web TV.

alt

Biểu đồ 3. Mức độ thường xuyên truy cập trang web thư viện

Qua biểu đồ ở trên có thể thấy SV rất ít chú trọng đến việc truy cập vào trang web của TV để tìm kiếm tài liệu phục vụ cho mục đích học tập. Điều này yêu cầu TV cần có những chiến lược tiếp cận phù hợp với nhu cầu thông tin của SV.

Khi được hỏi nguồn cơ sở dữ liệu (CSDL) hiện nay của TV có đáp ứng được nhu cầu tài liệu cho học tập không? Con số thống kê cho ta một bức tranh không tươi sáng đối với việc sử dụng nguồn thông tin trong TV từ SV. Có tới 54% ý kiến cho rằng CSDL tại TV chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu, 11% trả lời là hiếm khi đáp ứng và chỉ có 1% đáp ứng được hoàn toàn nhu cầu của mình - đây là con số đáng báo động. Điều này trả lời vì sao một số SV thay vì vào trang web TV để tìm kiếm tài liệu, họ lại dùng các thiết bị điện tử của mình truy cập Internet vào những trang khác nhau để học tập, tìm kiếm tài liệu, như Google hay Wikipedia. Số liệu điều tra cho thấy 75% SV thường xuyên vào Internet tìm tài liệu để làm bài tập, viết tiểu luận và tham luận. Họ cho rằng Internet cái gì cũng có. Tuy nhiên, không ai nhận thức được rằng những thông tin ấy có chính thống không và đáng tin cậy để lựa chọn hay không. SV lựa chọn Internet là nguồn tài liệu học tập cho thấy TVĐH đang chậm chân trong việc cung cấp các nguồn tài liệu điện tử trực tuyến, cũng như khẳng định là cổng thông tin cung cấp những nguồn tài liệu đã chọn lọc và được kiểm định. Dĩ nhiên, vấn đề này không phải chỉ có riêng TV, nó còn liên quan đến giảng viên, phương pháp giảng dạy và chương trình đào tạo. Nhưng với vai trò là đơn vị phục vụ đào tạo của một trường đại học, nếu bắt kịp xu thế số hoá và trực tuyến, TV có thể cải thiện và thay đổi được thực trạng này. Như mong muốn của nhiều SV: muốn TV có nhiều tài liệu điện tử hơn, dễ dàng truy cập hơn, công cụ tìm kiếm tốt hơn để họ coi TV là nguồn cung cấp thông tin chính cho hoạt động học tập của mình.

Những yếu tố tác động đến việc sử dụng thiết bị điện tử cho việc học tập

Có quá nhiều ứng dụng giải trí trên thiết bị di động và Internet. Như kết quả khảo sát ở trên, có hơn 70% SV dùng thiết bị di động cho hoạt động giải trí. SV cho rằng chiếc điện thoại thông minh hay máy tính bảng có rất nhiều ứng dụng trò chơi phong phú, khiến họ bị phân tán không thể tập trung vào học. Bên cạnh đó thông qua Internet, SV tiếp cận nhiều kênh giải trí như âm nhạc, phim ảnh, trò chơi hay các mạng xã hội. Đây chính là những yếu tố làm phân tán việc sử dụng thiết bị di động vào mục đích học tập của SV.

Tốc độ truy cập trang web TV chậm. Một yếu tố tác động không nhỏ đến việc dùng các thiết bị này để tra cứu, tìm kiếm tài liệu trên trang web của TV chính là do tốc độ truy cập. Chỉ có 2% và 15% SV đánh giá tốc độ phản hồi của trang web là rất nhanh và nhanh. Có tới 20% và 10% ý kiến nhận xét tốc độ truy cập lần lượt là chậm và rất chậm. Tốc độ trung bình là kết quả chiếm tỷ lệ cao nhất 53%. Việc truy cập trang web chậm khiến cho người dùng phải chờ đợi, gây tâm lý khó chịu, dẫn đến ngại vào tìm kiếm thông tin.

Nguồn tài liệu điện tử trong TV còn rất hạn chế. Tài liệu điện tử/ tài liệu số đóng vai trò quan trọng trong một TV hiện đại của kỷ nguyên Internet và số. Kết quả khảo sát chỉ ra rằng các nguồn tài liệu điện tử phục vụ cho việc học tập vẫn còn ít, chưa đáp ứng được nhu cầu của SV. Có tới 65% SV trả lời nguồn tài liệu trong TV chưa đáp ứng được nhu cầu học tập của họ. Điều này dẫn đến các thiết bị điện tử chưa được sử dụng để khai thác và đọc tài liệu từ nguồn của TV. Do vậy, phần lớn nguồn tin điện tử được SV sử  dụng cho mục đích học tập vẫn là từ Internet, có 68% SV dùng Google như là công cụ tìm kiếm thông tin chính.

Nhân tố giảng viên.Giảng viên là người trực tiếp thực hiện chương trình đào tạo, chuyển tải nội dung môn học và vận dụng phương pháp giảng dạy. Do vậy vai trò của giảng  viên là rất lớn trong việc giới thiệu và định hướng SV khai thác nguồn thông tin trong TV, đặc biệt là nguồn tin điện tử nếu có. Khảo sát cho thấy, nhìn chung giảng viên ít hướng dẫn SV tìm kiếm tài liệu trong TV liên quan đến môn học, chỉ cung cấp một số tài liệu cơ bản, việc kiểm tra đánh giá các bài luận cũng không yêu cầu cao đối với SV trong việc tìm kiếm tài liệu đã được thẩm định. Kết quả khảo sát chỉ rõ còn 50% giảng viên vẫn chưa thường xuyên cung cấp tài liệu cho SV, các tài liệu điện tử và số thì rất hiếm. Điều này dẫn đến việc SV không sử dụng thường xuyên nguồn tài liệu số là tất yếu.

Thư viện cần làm gì để đáp ứng nhu cầu sử dụng tài liệu điện tử của sinh viên

Khảo sát cho thấy, SV có mong muốn sử dụng dịch vụ trực tuyến của TV nhiều hơn. Đó là tìm kiếm và khai thác thông tin trên trang web của TV. Nhiều SV mong muốn có thể tìm và đọc tài liệu trực tuyến trên trang web của TV mà không phải đến TV. Họ mong muốn TV có chính sách hướng dẫn SV sử dụng và tra cứu CSDL (có thể mở những lớp học về cách sử dụng, tra cứu, tìm kiếm CSDL do người làm thư viện trực tiếp giảng dạy). Mặt khác, một vấn đề nổi cộm chính là việc trang web của TV vẫn có nhiều hạn chế như tốc độ phản hồi chậm, có nhiều thông tin không cần thiết nhưng vẫn đưa lên rất nhiều, việc tìm kiếm tài liệu còn phức tạp, hay nguồn CSDL toàn văn vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng.

Vậy TV phải làm gì để tăng số lượt người truy cập và sử dụng tài liệu điện tử? Với 70% SV thỉnh thoảng hoặc rất hiếm khi vào trang web của TV để tìm kiếm thông tin, hơn 80% cho rằng trang web của TV còn chậm và 77% cho rằng CSDL của TV không đáp ứng được nhu cầu của họ, thì nhu cầu về nâng cấp trang web và phát triển CSDL số đang được đưa ra. Có tới 48% ý kiến cho rằng TV cần phải nâng cấp trang web và 40% cho rằng cần cung cấp hay bổ sung thêm nguồn tài liệu số. Bên cạnh đó, có ý kiến cho rằng TV cần kết hợp chặt chẽ với giảng viên về việc hướng dẫn và định hướng sử dụng tài liệu điện tử có tại TV như là nguồn tham khảo chính thống (Biểu đồ 4).

alt

Biểu đồ 4. Những mong muốn của sinh viên đối với thư viện

Kết quả khảo sát này cũng giúp TV nhìn nhận lại xu thế sử dụng thiết bị di động và khai thác thông tin trực tuyến của người dùng tin, cụ thể là SV, qua đó có những chiến lược phát triển phù hợp. TV cần có kết hoạch để xúc tiến đưa ra các cơ hội nhằm nâng cao số lượng SV sử dụng thiết bị điện tử để khai thác và sử dụng các dịch vụ của TV như: thúc đẩy mượn liên TV trực tuyến; kết hợp chặt chẽ với các khoa và giảng viên để có những buổi hội thảo và tiến tới hợp tác sử dụng trang thiết bị điện tử trong hoạt động giảng dạy và học tập; đề xuất các giải pháp công nghệ áp dụng các thiết bị dạy học điện tử; tập trung phát triển nguồn học liệu số, song song đó là quảng bá và khuyến khích người dùng dịch vụ trực tuyến của TV.

TVĐH là một thành tố quan trọng trong hoạt động đào tạo bậc đại học. Chính vì vậy, TVĐH cần bắt kịp với xu thế và chiến lược phát triển của giáo dục đại học. Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2012-2020”, trong đó nêu rõ “đẩy mạnh các hình thức học từ xa, học qua mạng, tăng cường xây dựng cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ cho đào tạo từ xa, đào tạo trực tuyến”. Như vậy có thể thấy, nhu cầu thực tế từ người dùng và chiến lược phát triển của Nhà nước đang hướng tới một môi trường học tập trực tuyến, năng động và mềm dẻo, với mục tiêu tạo điều kiện và cơ hội tốt nhất để mọi người có thể tiếp cận đến các dịch vụ giáo dục. Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động đào tạo làm cho việc dạy và học trở nên dễ dàng và có hiệu quả hơn. Thông qua thiết bị di động có nối mạng, giảng viên và người học có thể giao tiếp với nhau bằng nhiều hình thức như thư điện tử, thảo luận trực tuyến, diễn đàn, mạng xã hội và hội thảo bằng  hình ảnh. Bên cạnh đó là giáo trình, bài giảng đều được số hoá. Thực tế này làm xuất hiện một nhu cầu cấp thiết về nguồn tài liệu số phục vụ cho hoạt động giảng dạy, học tập và nghiên cứu. Đây chính là cơ hội để các TV đổi mới mình và xây dựng một chiến lược phát triển bắt kịp xu hướng này, trong đó hướng tới các sản phẩm và dịch vụ thông tin số và trực tuyến.

Kết luận

Một thực trạng có thể thấy đó là SV ngày càng sử dụng nhiều thiết bị di động vào việc học tập và họ đang có xu thế sử dụng nguồn thông tin điện tử trực tuyến như một nguồn chính để phục vụ việc học của mình, trong khi đó TVĐH lại chưa bắt kịp xu thế này. Với tâm lý của giới trẻ hiện nay, truy cập nhanh và khai thác thuận tiện đang là điều mà họ mong muốn khi tiếp cận một dịch vụ trực tuyến. Chính vì thế, thay vì tìm và đọc tài liệu trong TV mất thời gian, họ đang chọn giải pháp tìm kiếm trên Internet để phục vụ cho bài học của mình. Đây chính là một thực trạng mà TVĐH cần thẳng thắn nhìn nhận và có chiến lược phát triển phù hợp.

Việc sử dụng thiết bị di động trong học tập và khai thác tài liệu số là một xu hướng tất yếu, từ đây đặt ra yêu cầu TV cần có những chuẩn bị để tham gia xu hướng mới này. Vì vậy, hy vọng rằng trong tương lai sẽ có những bài nghiên cứu sâu hơn và cụ thể hơn nữa với quy mô bao quát hơn để chúng ta có cái nhìn toàn cảnh về sự tác động của công nghệ thông tin, đặc biệt là của thiết bị di động đối với bộ phận giới trẻ. Từ đó, có những biện pháp và đề xuất tốt nhất nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các TV.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Thủ tướng Chính phủ. Quyết định số 89/QĐ-TTg: Phê duyệt Đề án Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2012 - 2020. 09/01/2013

2. Cavus, N. and Al-Momani, M. M. Mobile system for flexible education// Procedia Computer Science. - 2011. - No. 3. - P. 1475-1479.

3. Chen, B. and Denoyelles, A. Exploring students' mobile learning rractices in higher education. Retrieved from http://www.educause.edu/ero/article/exploring-students-mobile-learning-practiceshigher-education.

4. Crompton, H. A historical overview of mobile learning: Toward learner-centered education// Handbook of mobile learning Florence. - KY: Routledge, 2013. - P. 3–14.

5. Graham, E. Using smartphones in the classroom. Retrieved from http://www.nea.org/tools/56274.htm.

6. Herrington, A. Using a smartphone to create digital teachingepisodes as resources in adult education// Research Online University of Wollongong. - 2009.

7. Kukulska-Hulme, A and Traxler, J. Mobile learning: A handbook for educators and trainers. - NT: Simultaneously, 2007.

8. Laru, J. and Järvelä, S. Using web2.0 software and mobile devices for creating shared understandingamong virtual learning communities// Fifth IEEE International Conference on Wireless, Mobile, and Ubiquitous Technology in. - 2008.

9. McGreen, N. and Arnedillo, S.I. Mobile phones: Creative learning tools// Mobile learning 2005. - Malta: International Association for Development of the Information Society Press, 2005. - P. 241-245.

_________________________

Đỗ Văn Hùng, Thái Thị Trâm

Khoa Thông tin - Thư viện, Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN

Nguồn: Tạp chí Thư viện Việt Nam. - 2014. - Số 5. - Tr. 29-34.

 
More Articles...
Page 41 of 239